Huyệt Đạo (Kinh Huyệt) Trên Cơ Thể

tiendungdev

Administrator
Staff member
9/8/17
31
9
8
kienthucvothuat.com
Dưới đây là những huyệt được viết theo tiếng Việt.











Huyệt Trung Phủ

Vị trí:
Giữa xương quai xanh đo xuống 1 tấc.

Chủ trị:
Sưng cuống phổi, phế viêm, suyễn, các bệnh phế.
So sánh với sách cổ : ho suyễn hơi thở gấp, ho thổ ra huyết, đờm. Hầu tý mũi nghẹt, mồ hôi xuất.

Phối hợp:
Phối Phế du,Khổng tối trị sưng cuống phổi kinh niên. Phối định suyễn (Ky), Nội quan, Đản trung trị suyễn phổi.

Thao tác:
Châm pháp: Khoa châm, hướng ngoại 0, 5-1 tấc. Cảm ứng: Căng, đau, nặng, hướng tới mạn sườn. Cứu lượng: Hoả cứu 3-5 tráng, ôn cứu 5-10 phút.

Loại huyệt:
Thủ túc thái âm hội huyệt, mộ huyệt của phế.

Lược khảo:
Phối Thiếu xung trị đau lồng ngực (Tư sinh kinh).
Bản huyệt là "mộ huyệt" của phế, tức là khí của Phế đọng ở trước ngực, tụ lại đây, bản huyệt gần phế nhất. Phàm khi phế bị sưng, bị đau, bị ngoại tà lục xâm phạm, cần khu trục thì dùng bản huyệt. Bản huyệt đối với phế như là một huyệt áp thống. Dùng âm kình hay dương kình đánh điểm trúng đều rất nguy hiểm. Nặng thì ho tức, thổ huyết, chết, nhẹ thì bị âm thương, sinh ho suyễn. Trị pháp như sau: châm Nội quan, bản huyệt (kích thích mạnh). Sau đó dùng muối rang nóng đắp lên. Trị liền 3-7 ngày.
__________________

Huyệt Vân Môn

Vị trí:
Ngay giữa trung điểm xương quai xanh, phía dưới xượng

Chủ trị:
Như Trung phủ . Đau vai phía trược

Thao tác:
Khoa châm 0, 5-1 tấc. Cứu 3-7 tráng, ôn cứu 5-15 phụt

Lược khảo:
Điểm trúng hơi thở nghẹt, đau tới sau lựng Huyệt vị dùng để tấn công đối thủ khi bị bóp cổ, ôm phía trước. Điểm, không nên đánh. Bị điểm trúng bằng âm hay dương kình đều sinh bệnh suốt đời. Trị pháp như Trung phủ.

______________

Huyệt Thiên Phủ

Vị trí:
Mép của nách đo xuống dọc theo cánh tay 3 tậc

Chủ trị:
Sưng cuống phổi, suyễn, chảy máu mũi, cánh tay đạu

Thao tác:
Trực châm 1-1, 5 tấc, ôn cứu 5 phụt

Lược khảo:
Đánh trúng, cánh tay bị mất lực trong thời gian ngắn. Nhưng không nguy hiểm. Khoảng 5-15 phút tự phục hồi.

____________________

Huyệt Xích Trạch

Vị trí:
Ngửa bàn tay lên, gập cùi chỏ lại, huyệt vị nằm trên lằn chỉ gập, đầu tam giác co cánh tạy

Hiệu năng:
Tiết phế nhiệt (làm cho nhiệt ở phế tiết ra ngoài), giáng nghịch khí (làm cho nghịch khí hạ xuộng)

Chủ trị:
Suyễn, ho, phế viêm, chi khí quản viêm, màng ngực viêm, thổ huyết, hầu sưng đau, cùi chỏ sưng đạu
So sánh với sách cổ: Suyễn, thổ huyết, đau tim, hầu tý, mạn sườn căng đạu

Phối hợp:

Phối với Thiếu-thương, Đại-truỳ,Hiệp-Cốc trị ho cạm

Thao tác:
Châm pháp: Trực châm sâu 0.5-1 tấc. Cảm ứng: cục bộ căng trướng, như có điện giật lan xuống cánh tạy Ôn cứu 5-15 phụt

Loại huyệt:
Hiệp huyệt của Thủ Thái Âm mạch

Lược khảo:
Phối Thiếu-trạch trị tâm phiền. Huyệt vị dùng để khống chế tạy Phàm nắm trúng cánh tay mất lực.

______________

Huyệt Ngư Tế

Vị trí:
Ngửa bàn tay, trung điểm của xương thứ nhất bàn tay, cuối của ngón cại

Hiệu năng:
Thanh phế nhiệt, lợi cổ hầu (làm giảm nhiệt ở phế, làm lợi ở cổ hậu)

Chủ trị:
Ho, suyễn, hầu viêm, amygdal viêm, mất tiếng nói, khạt ra huyết, phát nhiệt, tiểu nhi cam tịch
So sánh với sách cổ: Ho, hầu tý, lạc huyết, mất tiếng nói, tinh thần thất thường, sốt rét, đau bụng, lồng ngực, lưng đạu

Thao tác:
Châm pháp: Trực châm 0.5-1 tấc. Cảm ứng: cục bộ căng trướng. Cứu lượng: hoả cứu 3 tráng, ôn cứu 1-3 phụt

Loại huyệt:
Thủ Thái Âm mạch "Sở lưu vi vịnh"

Lược khảo:
Huyệt vị dùng để khống chế tạy Phàm nắm trúng đau lan tới ngực, tay mất lực
__________________

Huyệt Tứ Bạch

Vị trí:
Mắt nhìn thẳng, giữa đồng tử chạy xuống. Kể từ bờ mắt xuống 1 tậc

Hiệu năng:
Sơ phong, minh mục, sơ can lợi đợm

Chủ trị:
Thần kinh mắt tê hoặc sưng đau, tam diện thần kinh đau, cận thị, giác mạc viêm, bệnh đởm, quá mẫn tính mắt sựng So sánh sách cổ: mắt sưng đỏ, nhức đầu, các bệnh mắt miệng

Thao tác:
Trực châm 0,3-0,8 tấc. Hoành châm 0,8-1 tấc. Cảm ứng: cục bộ căng tê lan tới mội Trị thần kinh mặt tê, hướng ngoại sâu 0,3-0,5 tấc, sâu vào dưới xương bờ mặt

Lược khảo:
Cổ nhân cấm cứu. Y Kinh cổ có nói : "Huyệt vị nguy hiểm, dùng âm kình điểm nhẹ thì rung động lác mắt, thính lực thị lực hỗn loạn. Điểm nặng thì dần dần trở thành điên, hoặc tinh thần hỗn loạn". Đông A Di Sự chép rằng Sài-Thung bị Trần Quang Khải điểm trúng huyệt này, lòi con ngươi mắt trái ra ngoài, chạy về Trung Quốc sau bị điên mà chệt
__________________

Huyệt Hạ Liêm

Vị trí:
Huyệt Khúc Trì trực hạ 4 tậc

Chủ trị:
Nhức đầu, đau mắt, chóng mặt, đau bụng, nhũ tuyến viêm, cùi chỏ sưng đạu

Thao tác:
Trực châm 1-2 tấc. Cứu 3-7 tráng, ôn cứu 5-20 phụt

Lược khảo:
Huyệt vị dễ bị đánh trúng, khi giao đấu cần phải tránh không nên dùng bản huyệt đỡ đòn. Bị đánh trúng, cánh tay tê liệt một lúc, tự khỏi, nhưng căn bản võ công tự tuyệt trong một lát rất nguy hiểm.

__________________

Huyệt Thượng Liên

Vị trí:
Huyệt Khúc trì dò xuống 3 tậc

Chủ trị:
Bán thân bất toại, tay bị té đau, ruột sôi đau bụng

Thao tác:
Trực châm 1-2 tấc. Ôn cứu 5-20 phụt

Lược khảo:
Huyệt vị dùng để khống chế tạy Trong khi giao đấu, bị đánh trúng, tê liệt khoảnh khắc, căn bản võ công tự tuyệt. Nắm trúng bản huyệt, không cử động được. Nếu bị đánh trúng, trong 3-7 ngày tự khỏi, muốn trị khỏi ngay: châm bản huyệt và Hiệp cốc.

_______________

Huyệt Thủ Tam Lý

Vị trí:
Huyệt Khúc trì trực hạ 2 tấc.

Chủ trị:
Khạc ra máu, phế viêm, màng bụng viêm, các bệnh cổ, cùi chỏ đạu

Thao tác:
Trực châm 1-2 tấc. Cứu 1 tráng, ôn cứu 5-15 phụt

Lược khảo:
Như Thượng liên.
__________________

Huyệt Khúc Trì

Vị trí:
Gập tay lại, huyệt vị nằm trên khúc gập, đầu lằn chị

Hiệu năng:
Sơ phong giải biểu, thanh nhiệt lợi thấp, điều hoà lao huyệt

Chủ trị:
Phía trên tay từ cùi chỏ trở lên đau nhức, ma tý, bán thân bất toại, áp huyết cao (HTA), cao nhiệt, bệnh sởi, bần huyết, bệnh quá mẫn, giáp trạng tuyến sưng lớn, bệnh ngoài dạ
So sánh với sách cổ : Mắt đỏ đau, đau răng, hầu tý, bì phu khô táo, kinh nguyệt không đều, bán thân bất toại

Phối hợp:
Phối Đại Truỳ, Hiệp Cốc,Ấn Đường (Ky), Thiếu Thương trị bệnh sởi. Phối Đại Truỳ, Thập Tuyên trị cao nhiệt.

Thao tác:
Châm pháp : 1/ Trực châm sâu 2-2,5 tấc. Cảm ứng : cục bộ căng trướng, đôi khi cảm giác như điện giật lan tới vai, dưới tới ngón tạy 2/ Trực châm hướng đầu cùi chỏ sâu 1,5-2,5 tấc. Cảm ứng : khi đắc khí, tê lan khắp tạy 3/ Gập tay, trực châm, trị cánh tay tệ Cứu 3-7 tráng, ôn cứu 5-20 phụt

Loại huyệt:
Thủ Dương Minh Kinh, "Sở Nhập Vi Hiệp"

Lược khảo:
Huyệt vị dùng để khống chế tay, nắm trúng, dùng kình lực, tê liệt tạy
__________________
 

tiendungdev

Administrator
Staff member
9/8/17
31
9
8
kienthucvothuat.com
Huyệt Thủ Ngũ Lý

Vị trí:
Huyệt Khúc Trì đo lên 3 tấc.

Chủ trị:
Khạc ra huyết, phế viêm, màng bụng viêm, bệnh về cổ, cùi chỏ đau nhực

Thao tác:
Trực châm 1-2 tấc. Cứu 7 tráng, ôn cứu 5-15 phụt

Lược khảo:
Trong võ học gọi là "hành thử huyệt" bởi khi đánh trúng bản huyệt thường nổi lên như con chuột chạy trên bắp tạy Đánh trúng đau đớn, căn bản võ công tự tuyệt ít phút. Sau đó như thường. Đánh trúng không hại gì, tự khọi
__________________

Huyệt Thiên Đỉnh

Vị trí:
Tuyến cổ, giữa cổ đo ra 3 tấc, dò xuống 1 tậc

Chủ trị:
Sưng amygdal, cổ hầu đau, bệnh xương cổ, bệnh lượi

Thao tác:
Trực châm 0,5-1 tấc. Cứu 3-5 tráng, ôn cứu 5-10 phụt

Lược khảo:
Huyệt vị tối trọng yếu, đánh, điểm trúng nhẹ thì trọng thương, nặng thì chết. Dùng âm kình thì trọng thương, dương kình thì chết ngay, không trị được. Người không biết khí công, điểm nguy hơn đạnh
__________________

Mạch Đốc

Xuất phát từ trong bụng phía dưới Thận, ra gần hậu mộn lên tuyến ở trong cột sống rồi chia ra thành 4 nhánh :

a. Lên thắt lưng, cổ, sau ót để vào não, trở ra trên đỉnh đầu, ra mí tóc trước trán, xuống chính giữa sóng mũi, môi và chính giữa mí lợi của răng và mội

b. Từ sau ót ra vai, xương bả vai, để nối liền với kinh Gân Bấp Bàng Quang, xuống mông, chấm dứt ở vùng bọng đái, dương vật của kinh Nhâm và chia ra hai nhánh khạc

c. Bắt đầu từ phần trên của bụng theo kinh Gân Bấp của Tỳ lên Rốn, theo vách thành của bụng xuyên qua Tim trở ra lồng ngực để nối lại với kinh Gân Bấp Bàng Quang, lên phía trên cổ để ra mặt, vào mắt để chấm dứt nối tiếp với kinh Bàng Quạng

d. Một nhánh khác theo hệ thống tiểu để vào hậu môn, vòng ra mông tiếp nối với kinh Gân Bấp Bàng Quang để lên đầu, mí mắt, theo kinh chánh của Bàng Quang xuống cổ, lưng để vào thận

Kinh Mạch Đốc có liên hệ với Não, Tuỷ của sống lưng, và Thận. Theo mạch chính từ hậu môn lên đầu gồm có 28 huyệt, nhưng những huyệt đạo sau đây giữ một vai trò chính yếu nhất của mạch chính :

Trường Cường : lỏm ngay giữa hậu môn và xương cụt ( Coccỹ ), đây là tử huyệt

Mạng môn : lõm xương cơ lưng thứ nhì, ngang với rốn phía trước.

Đào đạo : đốt xương sống thứ nhất.

Đại chuỳ : đốt xương cổ thứ 7

Á môn: lỏm ở gáy, cách mí tóc khoảng nữa ngón tay

Não Hộ : Từ mí tóc đo lên 2 ngón tay

Bách hội: ngay đỉnh đầu, khe của hai bán cầu đại não, là nơi giao tiếp của 6 kinh Dương

Thần Đình: từ mí tóc trán đo lên nữa ngón tay

Nhân Trung: ngay góc của mũi ( giữa môi trên và mũi )

Âm giao: giữa môi trên với nướu răng phần trọng
__________________

SỰ TƯƠNG QUAN CỦA HỆ THẦN KINH và "NÚT THẦN KINH" (HUYỆT)

Cũng căn cứ vào lương y chăm cứu, thì các huyệt như Toàn Tâm, Thiên Trì, Phúc Kiết, Kỳ Môn, Kiên Tĩnh nằm ở gần hai bên nách, vai và dưới nách là những huyệt nguy hiểm vì là nơi tập trung của nhiều dây thần kinh chằng chịt như lưới nhện, ngoài ra nơi đây còn là nơi chứa huyết khí ( gọi là huyết nang ), cho nên nếu muốn huỷ tay của địch, dù tạm thời hay vĩnh viễn, thì cứ nhắm vào các khu vực trên mà đánh tới... không cần biết địch to con như thế nào, muclé nhiều ra sao, nhưng nếu bị đánh trúng các yếu huyệt trên tất nhiên cánh tay của hắn nhẹ thì bị đau nhức, năng thì bị tê liệt tạm thời, không làm chủ được, còn bị nặng hơn thì cánh tay của hắn sẽ bị phế trong một thời gian khá dại

Động mạch bên vú trái là Khí Môn, còn gọi là Thượng Huyết Hải, thuộc về gan, chủ về khí huyết, nếu bị đánh trọng thương tất sẽ bị bế khí ngay lập tức. Nặng thì thổ huyết, nếu không cấp cứu kịp thời ắt tính mạng sẽ nguy vong ( chết ), nhẹ thì có thể chữa được, nhưng để lâu cũng sẽ trở nên nguy hiểm đến tính mạng luộn

Động mạch bên vú phải phía trên là huyệt Ưng Song, còn gọi là Đàm Huyết Hải, hay là Thượng Huyết Hải, thuộc phổi, chủ về khí, bị trọng thương tất bị bế khí mà chết, bị nhẹ cũng thổ huyết, nếu không thuốc thang đều đặn thì sau một thời gian cũng chệt

Các huyệt Bách Hội, Thái Âm, Thái Dương, Hồng Đường, Mệnh Mạch, Mạch Tông, Đàm Đột, Huyền Cơ, Phế Miêu, Uyển Tâm, Cự Khuyết, Thực Kiết, Huyết Trì, Cước Diện, Hải Để, Toả Yêu, Can Kinh, Phế Kinh, Hạc Kha^?u...v...v... Đều là tử huyệt nếu bị đánh trọng thương tất khó bảo toàn tính mạng. Biết để tránh đi khi lâm trận, chứ đừng lạm sát, không tốt. Duy huyệt Kiên Oa ( cân trì mạch ) có thể đánh được vì dùng để phế đi gân cốt của địch, người không có nội lực chắc không đủ đánh đứt hết gân mạch của địch, nhưng tạm thời cũng có thể khiến cho gân của hắn bị rút lại, không co giản được trong một khoảng thời gian khá lâu, tuy nhiên địch cũng cần phải chửa trị, nếu để lâu ắt sẽ thành tật

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐẢ HUYỆT

1. Nắm đấm ( fore-fist )

2. Má ngoài của nắm đấm (back-fist)

3. Cạnh dưới của nắm đấm ( bottom-fist)

4. Nắm đấm với ngón trỏ, hay ngón giữa lồi ra ( one-knuckle fist)

5. Quỷ thủ ( fore-knuckle-fist)

6. Cạnh trong của đao thủ tức là chổ ngón tay cái ( ridge hand)

7. Má ngoài của đao thủ ( back hand )

8. Hùng thủ tức tát bằng má trong của bàn tay ( bear hand )

9. Hai ngón chỉa ( two-fingers spear hand )

10. Nhất dương chỉ ( one finger spear hand )

11. Đao thủ tức chém hoặc chặt ( knife hand )

12. Chĩa, giống như đao thủ nhưng khong chặt mà đâm tới ( spear hand )

13. Ức bàn tay, giống như hùng thủ, nhưng dùng ức thôi ( palm heel )

14. Cổ tay ngoài ( ox-jaw hand )

15. Cùi chỏ ( elbow )

16. Ức bàn chân ( ball of the foot )

17. Đầu gối ( knee )

18. Cạnh bàn chân ( ridge foot )

19. Gót chân ( heel )

20. Má trên bàn chân giống như đá vòng cầu ( instep ).