Kỳ VIII: Thanh Bang Thất Thế

Thảo luận trong 'Giai Thoại, Chuyện Làng Võ' bắt đầu bởi Van An, 27/6/18.

  1. Van An

    Van An New Member

    Tham gia ngày:
    11/8/17
    Bài viết:
    25
    Đã được thích:
    5
    Ngoài một phen sợ đến vỡ tim, Đỗ Nguyệt Sênh còn bị Hoàng Tường Phong đem đốt bỏ mất số thuốc phiện tịch thu được, không trả. Tưởng Giới Thạch cũng ngậm đắng nuốt cay, bởi không thể đứng ra nhận rằng có phần mình trong số ma túy buôn lậu đó, càng không thể thừa nhận với viên tướng ngang ngạnh rằng chính ông ta chủ trương, dung túng, tạo điệu kiện cho tập đoàn Thanh Bang của Đỗ Nguyệt Sênh buôn lậu thuốc phiện.

    Đỗ Nguyệt Sênh cay đắng nhận ra rằng với phe quân đội cứng rắn, nhất là khi ở ngoài đất Thượng Hải, quyền lực xã hội đen của Đỗ không có cửa địch lại. Đao búa tất nhiên không so nổi với súng máy và đại bác. Buồn bực và hoảng sợ, "tên vô lại ái quốc" rời Trùng Khánh, gác lại tất cả các chức vị xã hội do Tưởng phong, từ bỏ công cuộc kháng Nhật xuất phát từ “lòng yêu nước nồng nàn” mà ông ta từng nhiều lần tuyên bố. Toàn bộ công việc làm ăn Đỗ giao lại hết cho con trai lớn. Cuối năm 1938, Đỗ bỏ sang Hồng Kong, tạo dựng cơ hội mới.

    Theo tính toán của Đỗ, cả cuộc kháng Nhật lẫn cuộc đối đầu Quốc – Cộng rồi cũng sẽ sớm kết thúc. Vạn nhất không như ý, số phận và quyền lực của Đỗ chưa chắc đã được bảo đảm, nếu cứ khu khư bám đất Thượng Hải. Hong Kong là nhượng địa của Anh, chiến tranh thế giới hầu như không ảnh hưởng đến nó. Quốc – Cộng, bên nào thắng, hiện trạng nhượng địa cũng không thay đổi, Đỗ cũng còn cơ hội dung thân để chết trong tuổi già. Mang theo một đám tay chân tin cậy từ Thượng Hải, quy tụ thêm thành viên Thanh Bang hội tại Hong Kong, Đỗ gầy dựng lại một đế chế Thanh Bang mới tại nhượng địa. Đỗ tự coi mình là ông trùm đầu tiên thế hệ chữ Ngộ, làm lễ khai sơn môn tại Hong Kong vào giữa năm 1939.

    Ở Thượng Hải, đường dây buôn lậu cũ vẫn hoạt động nhưng kín đáo hơn. Hàng hóa buôn bán giữa hai vùng tự do và vùng bị Nhật tạm chiếm vẫn được con trai trưởng của Đỗ điều hành lưu thông đều đặn. Dĩ nhiên, ma túy vẫn là nguồn lợi số một. Thậm chí, dù đang chiến tranh với Nhật, cha con Đỗ vẫn thiết lập được một đường dây mua thuốc phiện sống từ Tứ Xuyên về Thượng Hải xuất sang Nhật, rồi lại mua heroin của Nhật đưa về Hong Kong, từ đó xuất sang Mỹ, kiếm một vốn 10 lời. Tưởng Giới Thạch không ngồi yên được, phải nhảy vào vừa kiểm soát vừa hỗ trợ. Tưởng ra lệnh cho 5 ngân hàng lớn của Trung Quốc tiếp vốn cho Đỗ buôn lậu, rót cho y tổng cộng 150 triệu nguyên vào năm 1942.

    Đỗ gầy dựng thanh thế Thanh Bang thế hệ chữ Ngộ trên đất Hồng Kông suốt gần 8 năm. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thấy phe Quốc Dân đảng chống Nhật của Tưởng mạnh lên, Đỗ lại quay lại Thượng Hải, hy vọng dựa uy thế của Tưởng để có thể khôi phục lại hào quang và những quyền lợi vương giả một thời.

    Nhưng Đỗ đã lầm. Khi tình trạng hỗn loạn thời chiến (với Nhật) kết thúc, Tưởng Giới Thạch – trong vai trò người đứng đầu chính phủ - không thể tiếp tục mặn mà với các mối giao hảo giang hồ và những trò thu gom quyền lực bằng biện pháp vô chính phủ. Tưởng đã đồng ý cho con trai (với người vợ cả) là Tưởng Kinh Quốc phát động và lãnh đạo Ủy ban ban bài trừ ma túy Quốc gia. Trẻ tuổi, có học, thượng tôn luật pháp, không bị ràng buộc bởi quan hệ bang phái, Tưởng Kinh Quốc đã cho tịch thu tài sản, bắt bỏ tù tên trùm buôn lậu ma túy lớn nhất Thượng Hải lúc bấy giờ. Không ai khác, đó chính là con trai của Đỗ Nguyệt Sênh. Nguồn ngân quỹ của Hội cứu tế, Hội Chữ thập đỏ, Hội ái hữu công nhân Thượng Hải, Xổ số quốc dân… bao nhiêu năm qua chảy trọn vào túi Đỗ cũng bị Tưởng Kinh Quốc cho điều tra. Nếu không vì đang lo loay hoay chống đỡ với sự trỗi dậy của Đảng Cộng Sản, hẳn ngành Tư pháp của chính phủ Tưởng đã sờ đến gáy Đỗ Nguyệt Sênh để cha con họ có cơ hội đoàn tụ trong tù.

    Đúng như Đỗ lo xa, không bao lâu Quốc Dân đảng bắt đầu mất dần lợi thế trước trước sự lớn mạnh và sự tấn công như vũ bão của Quân giải phóng Trung Quốc. Từng tiếp tay cho Tưởng tiêu diệt Cộng sản, Thanh Bang hội không còn đất sống khi lãnh địa Quốc Dân đảng teo tóp dần. Từ năm 1947, các băng nhóm tội phạm đã lục tục kéo sang tìm đất mới ở Hồng Kông. Đỗ cũng không chờ đến lúc Quốc Dân đảng bị Hồng quân quét sạch để chạy theo sang Đài Loan, vội bỏ hẳn Thượng Hải cao chạy xa bay sang Hồng Kông từ tháng 4-1949. Đỗ Thị đường hoành tráng năm nào được Đỗ bán tống bán tháo lại cho Lãnh sự quán Mỹ với giá 450.000 USD. Đó là một số tiền cực lớn. Lúc đó, các nhà tài phiệt, các trùm đầu lĩnh bang hội đang cuống cuồng thu gom tài sản đẻ tháo chạy nên không ai có và cũng chẳng ai dám bỏ ra một lượng tiền lớn như thế “thanh lý” giùm tài sản cho Đỗ.

    Hai tiền bối Thanh Bang Hoàng Kim Vinh và Trương Tiêu Lâm không may mắn được như gã đàn em. Trương Tiêu Lâm, vì thân Nhật, bỏ Tưởng ủng hộ chính phủ Uông Tinh Vệ, trước đó mấy năm đã bị Tưởng cho đặc vụ của Đới Lạp và Mao Nhân Phụng hạ sát. Hoàng Kim Vinh thì tiến thoái lưỡng nan.

    Số là vào mùa đông năm 1937, đang hồi cực thịnh Hoàng Kim Vinh đã dùng uy thế ép người bán, mua rẻ 500 mẫu đất tại Thương Châu. Thương thảo sắp ngã ngũ, đột nhiên người bán đổi ý. Điều tra, Hoàng Kim Vinh phát hiện đám đất này được bán cho ông chủ Ngũ Thị Khanh với giá 5 triệu đồng, cao hơn 20% giá Hoàng Kim Vinh đã thỏa thuận. Chưa đầy một năm sau, giá đất tăng ào ào. Ngũ Thị Khanh đem bán hết toàn bộ 500 mẫu đất, thu về 9 triệu nguyên, lãi ròng 80%.

    Mất món lợi quá lớn, Hoàng Kim Vinh không cam tâm. Nhưng công khai đối đầu, Hoàng cũng không thể. Ngu Thị Khanh từng oai trấn giang một thời, là cổ đông quan trọng, hoặc là ông chủ thật sự của nhà băng Kim Thành, nhãn hiệu vàng Kim Thành cùng vô số cơ sở kinh tài lớn khác, ai nghe tên cũng phải cúi đầu. Ngu Thị Khanh với Tưởng Giới Thạch có tình đồng hương Ninh Ba. Chính Tưởng Giới Thạch đã được Ngu Thị Khanh tiến dẫn, đến bái quan môn Hoàng Kim Vinh xin nhận làm đệ tử Thanh Bang, xếp thế hệ chữ Ngộ (Hoàng Kim Vinh thuộc thế hệ chữ Thông, trong bảng sắp 4 dòng bắt đầu từ thời mạt Thanh là Đại - Thông - Ngộ - Học. Tưởng cũng đã bái nhận Ngu Thị Khanh làm nghĩa phụ. Hàng năm, quan viên cao cấp cả trong chính phủ lẫn ngoài giang hồ ở Thượng Hải, trước khi đến lễ Tết Tưởng, bao giờ cũng đến thăm hỏi, vấn an Ngu Thị Khanh trước.

    Biết uy vũ trùm trời của Ngu Thị Khanh nên khi làm lễ Khai sơn môn ấn định phả hệ giang hồ Thanh Bang cho Tưởng, Hoàng Kim Vinh đã không những không nhận tiền “đặt chỗ” (một thủ tục bắt buộc, số tiền thường rất lớn) mà còn tặng Tưởng thêm 9000 đồng Nguyên, gọi là để chúc phúc hanh thông. Sau sự biến 12- 4- 1927, Hoàng Kim Vinh đã thửa lễ, đến gặp Tưởng…bái trả, xóa lời nguyền phả hệ, trả quan hệ thầy trò để trở thành đồng đạo giang hồ. Hoàng Kim Vinh làm thế để phòng xa, giữ thể diện cho Tưởng, tránh phải tự chuốc lấy tai vạ.

    Biết, nhưng giận quá hóa ngu, Hoàng Kim Vinh vẫn quyết định tá đao sát nhân, làm một quả “phất phiến thu phong” (vẩy quạt gió thu) phạt Ngu Thị Khanh.

    Hoàng Kim Vinh sai Từ A Ninh tìm Thẩm Bát, một tay rất giỏi trong nghề ám sát, thủ tiêu, bắt cóc tống tiền, thủ hạ của tư lệnh phòng thủ Ninh Ba Vương Kỳ Nam thương lượng nhưng không để lộ cho Vương Kỳ Nam biết, thuê Thẩm bắt cóc tống tiền Ngu Thị Khanh. Điều này không quá khó. Ngu Thị Khanh luôn tin rằng cả đất Thượng Hải không có ai dám nghĩ đến chuyện làm ông ta rụng một cọng lông. Ra đường, Ngu Thị Khanh không hề mang theo bất kỳ vệ sĩ nào, thỉnh thoảng còn tự mình lái xe, thích đâu ghé đấy không theo quy luật nào cả.

    Một ngày cuối năm 1938, Thẩm Bát và hai tên đàn em đã dí súng vào lưng “mời” Ngu tiên sinh lên xe của chúng đang nổ máy sẵn. Trên xe, Ngu Thị Khanh bị trói, bị đánh, bất tỉnh.

    Tuy đã già nhưng bản lĩnh giang hồ của Ngu Thị Khanh vẫn còn khá nhanh nhạy và cứng cỏi. Tỉnh dậy, thấy xe của ba tên vô lại đã dừng tại một khu vắng vẻ, Ngu Thị Khanh bèn chủ động ngọt lạt: “Đâu cần phải mạnh tay với lão già này như thế. Có khó khăn gì, anh em cứ nói. Ngu mỗ đây có trót đắc tội điều gì cũng xin xí xóa, mời anh em về khách sạn làm một chầu tẩy trần và có dịp hàn huyên. Nghe giọng, chắc chúng ta đều đồng hương Ninh Ba cả!”.

    Nghe con mồi khéo léo nhắc chữ “đồng hương”, Thẩm Bát dịu giọng: “Mưa gió tơi bời, kiếm sống khó quá. Phiền tiên sinh giúp chúng tôi một ít. Chừng này thôi”. Vừa nói Thẩm Bát vừa giơ 4 ngón tay.

    Ngu Thị Khanh nén đau, cười nhẹ: “Bốn vạn à?”

    Thẩm Bát trở lại giọng cô hồn, huỵch toẹt: “Bắt cóc một đại phú như Ngu tiên sinh mà chỉ đòi có 4 vạn thì chẳng bõ giắt răng. Tiên sinh cứ...nạnh dạn nhân mười lên cho!”

    Ngu Thị Khanh cười, lắc đầu: “Chỉ thế thôi sao? Cởi trói, theo ta về nhà lấy tiền. Ngu mỗ xin biếu anh em mỗi người ba mươi vạn. Đừng ngại. Kẻ hèn này cũng từng hoành đao tam quan lục cảng, thấu hiểu lý lẽ giang hồ. Lừa anh em vô bẫy vì non trăm vạn bạc, để tiếng bỉ côn sất phu, Ngu mỗ tuyệt đối không nghĩ đến”.

    Thẩm Bát cảnh giác: “Thật không dám phiền, tiên sinh cứ ngồi nghỉ, chỉ cần viết cho người nhà mấy chữ, người anh em của tôi sẽ tự tìm đến nhà xin.”
     
  2. Van An

    Van An New Member

    Tham gia ngày:
    11/8/17
    Bài viết:
    25
    Đã được thích:
    5
    Ngu Thị Khanh lấy ngay giọng bề trên, cười lạt: “Khóa nhà, khóa tủ…ta mang theo đây cả. Ngân phiếu thì nhiều, nhưng tiền mặt thì chắc không đủ. Anh em lấy bao nhiêu cũng được, nhưng để anh em phải cầm ngân phiếu, có khác gì ta làm khó đẩy anh em vào chỗ chết vì dễ lộ, tiêu làm sao được? Chi bằng cả 4 chúng ta đến khách sạn của bạn ta, uống chén rượu nhạt, ta sẽ lấy tiền mặt của người bạn gửi cho anh em. Đi cả 4 người, chắc anh em không lo bị gạt chứ?”.

    Im lặng từ đầu buổi, gã lái xe bất ngờ lên tiếng: “Tụi tôi có bề gì, toàn bộ biệt thự Tam Bắc với cả 3 đời tông tộc của tiên sinh chắc cũng không giữ được một mảnh nguyên. Xin tiên sinh cứ cho địa chỉ.”

    Đến nơi, tiệc bày trên tầng 3. Ngu Thị Khanh nói chủ khách sạn: “Phiền bằng hữu Lục Liên Khuê cho mượn 90 vạn để Ngu mỗ giúp anh em đồng hương đang có chuyện cần”. Cố ý nhắc tên chủ nhà, Ngu Thị Khanh đã giáng cho ba kẻ bắt cóc tống tiền một đòn trí mạng. Lục Liên Khuê đang là Trưởng phòng Tuần bổ khu 13, Tô giới Pháp, khét danh giang hồ như một đao phủ chưa từng run tay. Lục Trưởng thám coi như đã rõ mặt ba tên uống mật gấu. Giờ thì tính mạng chúng đã nằm gọn trong tay của Ngu xếnh xáng và chỉ cần ông ta ho một tiếng.

    Nhưng Ngu Thị Khanh vẫn cười nói tự nhiên, cố ý không biết đến chuyện ba khẩ súng ngắn đạn đã lên nòng đang chĩa vào ông ở dưới gầm bàn, vẫn liên tục tiếp rượu, thức ăn cho ba thích khách. Tiền được chủ khách sạn đưa lên không thiếu một đồng. Ba thích khách phân vân. Ngu Thị Khanh lại mở cho lối thoát: “Đồng hương vất vả ghé thăm, tiếc là không có thời gian ghé tệ xá của ta hàn huyên vài bữa, thật ngại quá. Thôi, cho phép mỗ tiễn anh em ra cảng Thập Lục”.

    Đến cảng, Ngu Thị Khanh lại mua ba vé tàu thủy hạng nhất tặng. Trong khi chờ tàu, nạn nhân lại mời cả ba tên vào quán trà Vạn Thanh nổi tiếng, vốn là của ông chủ Hoàng Kim Vinh mở giao cho em ruột Hoàng Trung Thư quản lý. Trong khi ngồi thưởng thức trà Long Tỉnh, Ngu Thị Khanh tỏ ra thân tình và bề trên: “Là bằng hữu, không biết thì thôi. Đã biết thì không cần cố chấp, sau này cần gì cứ điện thoại, viết thư hay ghé tệ xá, Ngu mỗ tuyệt đối không chối từ, không cần động giao động súng gây kinh động. Chiếc xe cần gửi ở đâu, anh em cứ cho biết, bản mổ sẽ cho người lo giúp”.

    Bản lĩnh cao cường của Ngu Thị Khanh đã hoàn toàn khiến ba tên đao búa thúc thủ, cứ ngỡ Ngu Thị Khanh là…. Đại bang chủ của chúng chứ không phải nạn nhân. Gã lái xe khai luôn “xe mượn của Công ty Hoàng Bao, cứ để trên bến khắc có người đến đem về”. Khi đang nói chuyện, bất ngờ Kim Cửu Lâm, một đệ tự Hoàng Kim Vinh xuất hiện, ngạc nhiên và mừng rỡ: “Thẩm Bát đại ca đến Thượng Hải bao giờ? Sao không cho đệ biết để nghênh đón”.

    Sau màn tiễn biệt, người cháu tên là Ngu Bưu được Ngu Thị Khanh điện thoại phái đi theo dõi đã về báo lại: “Đến lấy xe là Kim Trung Thư, cháu họ của Hoàng Kim Vinh”.

    Vậy là quá đủ. Nhưng chưa hết. Ân tình được đền đáp. Thẩm Bát và tay chân lấy được tiền trên cả mong đợi nhưng không hề bị trừng phạt đã viết thư gửi Ngu Thị Khanh xin khấu đầu tạ tội. Thư khai rõ: “Đắc tội với tiên sinh là do chủ ý của Tổng thám Hoàng Kim Vinh, thuê với giá 20 vạn trong số tiền lấy được. Mong tiên sinh bảo trọng”.

    Áp tết năm đó (1939), Ngu Thị Khanh đã một mình đền thăm họ Hoàng, đưa bức thư và các chứng cứ ra, đòi Hoàng Kim Vinh cùng mình đi Nam Kinh một chuyến, cùng gặp Tưởng Giới Thạch nhờ phân xử. Hoàng Kim Vinh luôn mồm kêu oan, luôn mồm thề triệu những kẻ liên quan đến để Ngu Thị Khanh tùy ý trừng trị. Hoàng Kim Vinh cố chứng minh là do các đệ tử Kim Trung Thư, Kim Cửu Lâm….quen Thẩm Bát nên đã vô tình cho mượn xe. Kế hoạch hoàn toàn do Thẩm Bát nghĩ ra. Hoàng không liên quan, cũng chưa từng biết Thẩm Bát là ai, nhưng để đệ tử vô tình dính líu, cũng xin bồi hoàn mọi thiệt hại.

    Ngu Thị Khanh không gật không lắc. Bí đường, Hoàng Kim Vinh đành dụng hạ sách khổ nhục kế. Để tỏ ra thành thật, Hoàng “mặt rỗ” lấy ra hai khẩu súng ngắn, tự kê vào hai đùi, bóp cò. Hoàng tự bắn vỡ tung hai đùi mình, máu tuôn lênh láng nhưng vẫn từ chối không dám để Ngu Thị Khanh giúp đưa đi bệnh viện, nằm quằn quại chờ bác sĩ riêng đến mổ gắp đạn và băng bó cho ngay tại phòng khách.

    Ngu Thị Khanh thấy đối thủ đã đã tự trừng phạt nên không nhắc thêm chuyện. Nhưng Hoàng vẫn sợ nên không dám theo Tưởng chạy sang Đài Loan. Theo Đỗ Nguyệt Sênh sang Hong Kong, Hoàng cũng e khó toàn mạng, bởi ở đất mới, chính Đỗ mới đích thực là ông trùm. Không chừng, Hoàng lão đại còn không chịu nỗi “gió máy dọc đường đi” mà chết bất đắc kỳ tử.

    Bốn năm sau ngày Thượng Hải lọt về tay quân Cộng Sản, nghe theo lời khuyên của Phó thị trưởng quân quản Thịnh Chính Hoa, Hoàng Kim Vinh đã tự động viết một bản tự bạch dài nguyên cuốn vở học trò, tự tố cáo hết tội ác, mánh khóe giang hồ của bản thân trong suốt mấy chục năm. Viết xong vẫn cứ sợ, giữa năm 1953, Hoàng Kim Vinh đột ngột lăn ra chết, dù chẳng đau ốm gì cả!

    Thanh Bang hội làm mưa làm gió Thượng Hải một thời đến đó xem như bị tuyệt diệt.

    (Còn tiếp)

    Ảnh: Người lính Anh và em bé Trung Hoa, Đại diện Nhật tại Hong Kong ký văn kiện đầu hàng, Quân Nhật rời bỏ Nam Kinh, Tội phạm chiến tranh Nhật Bản bị dẫn giải về trại Stanley, Hong Kong năm 1945.
     

Chia sẻ trang này