Bí Quyết Luyện Công Của Thiếu Lâm

Thảo luận trong 'Thiếu Lâm' bắt đầu bởi Van An, 14/8/17.

  1. Van An

    Van An New Member

    Tham gia ngày:
    11/8/17
    Bài viết:
    18
    Đã được thích:
    4
    Huyền Thịnh (Theo Karate Bushido)

    Bí quyết của võ phái này nằm trong câu khẩu quyết: ?Khí nhiều hơn, tập luyện gian khổ hơn?. Các nhà sư Thiếu Lâm đã thực hiện câu này từ nhiều thế kỷ và những nhà vô địch của các võ phái cũng nằm lòng câu này.

    Trung Hoa còn một câu thành ngữ khác: ?Khi bạn đã lên đến đỉnh, chỗ để bắt đầu lại là ở dưới đáy?, có ý khuyên chớ nên coi thường và bỏ qua những đòn thế căn bản. Càng tập luyện chúng thuần thục, việc ra đòn càng chính xác, linh hoạt, hữu hiệu. Ngoài ra, còn phát huy tốc độ ra đòn, sức mạnh và sự dẻo dai.

    Muốn cơ thể dẻo dai, phải tập vươn dãn bằng các động tác làm nóng người. Với Thiếu Lâm, yêu cầu là môn sinh phải cúi gập người tới mức có thể "hôn"các ngón chân ở hai tư thế đứng và ngồi.

    Thiếu Lâm dạy ba cấp độ về khí: Tui li (chuyển khí): môn sinh phải chuyển được khí lực ra tay chân khi tung đòn; Baofa li (tụ khí): tụ khí vào điểm chạm đòn để gia tăng sức công phá; gun li (nén khí): dù ở cự ly gần vẫn có thể tung đòn.

    Một bí quyết nữa là tinh thần phải hoàn toàn thư giãn, thanh thản. Lo âu, giận giữ, buồn rầu hay hưng phấn, vui vẻ... đều là cảm xúc có hại, vì làm mất sự quân bình của cơ thể. Tinh thần càng thanh thản, thể xác sẽ ở tình trạng hoàn hảo, tốc độ và sức mạnh của đòn tung ra sẽ đạt mức tối đa.

    Ba phần của cơ thể (đầu, mình, tứ chi) phải phối hợp hoạt động một cách tập trung để phát huy tối đa hiệu năng của đòn đánh. Võ thuật Trung Hoa cũng nhắc đến hai sự hòa hợp ngoại và nội tại. Ngoại tại là sự hòa hợp giữa tay với chân, vai với hông, chỏ với gối. Nội tại là sự hòa hợp giữa tâm với thần, thần với khí và khí với lực. Hai sự phối hợp này phải luôn đi với nhau vì mọi chuyển động của các cơ phận đều do mệnh lệnh từ não (tức là thần). С?? đạt được sự phối hợp này, hãy bắt đầu tập các đòn thế thật chậm, từ ý nghĩ đến từng mệnh lệnh cho tay, chân, vai, hông... rồi tập nhanh dần lên.

    Tốc độ ra đòn sẽ tăng tiến dần theo số lần tập luyện. Hãy tập zhi quan (đấm thẳng), bai quan (đấm móc), gou quan (đấm vòng) hàng trăm lần mỗi ngày: cú đấm sẽ trở thành lưỡi gươm nhọn, nhanh, mạnh khủng khiếp.
    Quyền pháp cá nhân sẽ hình thành sau thời gian dài bền bỉ luyện quyền. Sẽ không còn phân biệt đâu là công hay là thủ nữa mà thủ cũng là công và ngược lại. Thời điểm tung đòn quyết định cũng sẽ được nhận biết tự nhiên, vì các đòn thế đã nhập tâm thì sẽ tuôn ra trôi chảy một cách bản năng.
     
  2. Van An

    Van An New Member

    Tham gia ngày:
    11/8/17
    Bài viết:
    18
    Đã được thích:
    4
    Binh Khí Của Môn Phái Thiếu Lâm

    Tác Giả: Sưu Tầm

    Môn Thiếu Lâm được xem là lãnh tụ của võ thuật Trung Quốc. Thực ra, quyền thuật phái Thiếu Lâm chỉ nổi tiếng từ Trung Điệp đời Minh trở về saụ Đầu đời nhà Thanh, quyền thuật Thiếu Lâm phát triển cực thi.nh.
    Trong niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh, các nhà sư Hồng Kỷ, Hồng Chuyển nổi tiếng về côn và tiên. Trình Xung Đẩu theo học với hai nhà sư này, có viết sách "Thiếu Lâm côn pháp xiển tông" và "Thiếu Lâm tiên pháp xiển tông". Trong đời chính Đức nhà Minh, có người ở Từ Khê là Biên Trừng cũng học được tinh nghĩa của võ thuật, bao gồm quyền thuật và thập bát ban võ nghệ của võ phái Thiếu Lâm.

    Sang niên hiệu Sùng Trinh đời Minh, các nhà sư Thiếu Lâm là Hồng Ký, Hồng Tín theo lời mời của Thẩm Tuy Trinh ở Bình Hồ, đến Thái Thương để dạy quyền thuật và thập bát ban võ nghệ của môn phái Thiếu Lâm cho binh sĩ. Đến khi nhà Minh mất, các bậc cố lão, di dân cùng những người thuộc tông thất nhà Minh trốn vào chùa Thiếu Lâm, gắng sức học tập võ nghệ, để mưu việc khôi phục đất nước. Tất cả các tuyệt kỹ về quyền thuật và binh khí Thiếu Lâm đã được đưa ra truyền dạy, gây cho nhà Thanh phải bao phen kinh hoàng...

    Những binh khí được liệt vào thập bát ban võ nghệ của môn phái Thiếu Lâm, gồm:
    1. Đao
    2. Thương
    3. Kiếm
    4. Kích
    5. Đảng
    6. Côn
    7. Xoa
    8. Ba
    9. Tiên
    10. Giản
    11. Chùy
    12. Phủ
    13. Câu
    14. Liêm
    15. Trảo
    16. Quài
    17. Cung tiễn
    18. Đằng bài

    Tuy nhiên, trong thực tế, không phải chỉ có mười tám môn binh khí như đã nêu trên, mà có đến gần cả trăm loại binh khí thuộc về mười tám loại cơ bản kể trên:
    -Trước hết có thể kể trong loại đao gồm có: đơn đao, song đao, đại đao phác đao, trảm mã đaọ Còn thương thì có đại thương (dài từ 1,6m đến 4m) và hoa thương (dài khoảng 2m đến khoảng 2,5m).
    -Về kiếm có: đơn kiếm song kiếm. Kích gồm đơn kích, song kích. Đảng có nhạn linh đảng, long tu đảng và lựu kim đảng (là những binh khí có đầu như cái móc). Câu có hai loại là: hổ đầu câu và lộc giác câụ
    -Môn binh khí liêm gồm có đao liêm, thương liêm và hổ trảo liêm (còn gọi là nhật nguyệt song bút). Trảo gồm có Kim long trảọ Quài có: Dương giốc quài, Lý công quài và Tiên lặc quài (còn gọi là câu liêm quài).
    -Riêng côn cũng có nhiều loại: trường côn, tề mi côn, đoản côn, tam khúc côn, nhị khúc côn, song côn.
    -Côn tiên gồm có: đơn tiên, song tiên, trung bình tiên, phương tiên, trúc tiết tiên, nhuyễn tiên.

    Cách vận dụng mười tám môn binh khí, đại để như thương và côn thuộc về một loại, bởi cách dùng côn và thương có nhiều chỗ giống nhau, nhưng về đánh xuống (từ chuyên môn gọi là "đả") thì côn nhiều hơn thương. Côn pháp của phái Thiếu Lâm còn kiêm luôn cả những đặc tính của thương và bổng, gồm 7 phần thương pháp, 3 phần bổng pháp. Trong các loại côn pháp thì côn pháp của Thiếu Lâm là hay nhất. Đến như lối hai tay cầm côn với bộ khẩu hướng vào nhau, gọi là âm thủ côn, chính là một lối côn đặc dị của Thiếu Lâm pháị
    Theo sách "Kỷ hiệu tân thư" của Thích Kế Quang thì : "Thương có lối Lê hoa thương pháp của họ Dương cùng với lối đánh côn của họ Sa và họ Mã". Theo sách "Thiếu Lâm côn pháp" của Trình Xung Đẩu thì : "Côn có loại Đại tiểu dạ xoa của phái Thiếu Lâm, cùng Âm thủ côn của nhà họ Tôn".

    Kích có hai loại khác nhau là trường kích và song kích. Trường kích và câu liêm thương thuộc một loạị Kích và câu liêm thương thường nặng ở đầu nên lúc sử dụng không được linh động như thương. Song kích thuộc một loại với song câu, song liêm.

    Đảng, xoa, ba thuộc về một loại đều là những võ khí ngăn trở địch tấn công mau chóng, nhưng dùng không được tiện lợi, nhanh nhẹn, dễ bị chậm chạp, không phải là người có sức mạnh thì không thể dùng được.

    Trúc tiết tiên, đơn giản, đơn đao thuộc về một loạị Song tiên, song giản, song đao thuộc về một loạị Lối đánh của tiên và giản là lối chém của đaọ

    Đại đao, trảm mã đao thuộc về một loại với chùy, phủ (búa), đều là những võ khí nặng nề. Ngày xưa, trong lúc hành quân, nếu trận của quân giặc quá kiên cố, người ta thường chọn những người có sức mạnh cầm chùy dài, búa dài, đại đao hay trảm mã đao hăng hái xông lên mà phá giặc. Nếu cá nhân chống nhau với đối thủ thì những võ khí nặng nề này không thích dụng lắm. Các loại binh khí này chỉ có các phương pháp: ngạnh đả, ngạnh chước, ngạnh thung, chứ không có nhiều xảo pháp.

    Lối sử dụng quải có lúc dài, lúc ngắn làm cho kẻ địch khó đề phòng. Câu liêm quài còn có phép mộc kéo đối thủ, nhưng rất khó sử du.ng.

    Kiếm được dùng từ xưạ Phàm các lối sử dụng về khí giới đều thoát thai từ lối đánh kiếm mà rạ Bởi vì ngày xưa, các võ khí như qua, mâu, kích - đều dùng trong chiến trận hơn nữa lại còn dùng lối đánh nhau bằng xe - cho nên đánh, đâm, tiến thoái đều theo sự tiết chế, mệnh lệnh mà động thủ, không thể nhảy nhót mau lẹ, tự do tung hoành, biến hóa như ý. Chỉ có kiếm là vật dụng người xưa hay mang theo, thường rèn tập có thể tự vệ được. Vả lại kiếm thường dùng đánh nhau dưới đất, vì vậy kiếm thuật rất dễ đến chỗ xảo điệu, vì nhiều người học và nghiên cứu, sáng tạọ

    Kiếm khác hơn đao ở chỗ đơn đao phía mũi rất nặng còn mũi kiếm thì nhe.. Vì vậy, dùng kiếm mau hơn là dùng đaọ

    Các loại binh khí nói trên thường chỉ được truyền dạy trong các chùa Thiếu Lâm - cái nôi của môn võ Thiếu Lâm - hoặc trong các lò võ Thiếu Lâm lớn còn đa số trong các lò võ và đại đa số người luyện tập môn phái Thiếu Lâm chỉ luyện tập các binh khí thuộc bộ Côn và bộ Kiếm và các dạng biến tướng của hai bộ nàỵ

    Sưu Tầm
     
  3. Van An

    Van An New Member

    Tham gia ngày:
    11/8/17
    Bài viết:
    18
    Đã được thích:
    4
    Sự phân chia võ thuật Trung Hoa
    Trước hết, chúng tôi muốn đề nghị một phân loại của Võ Thuật Trung Hoa :
    - những môn vật còn được gọi là Suất Giao, là những môn có tính chất thể thao, bao gồm :
    - môn vật Trung Hoa,
    - môn vật Mông Cổ,
    - môn vật của tỉnh Vân Nam...,
    - những môn quyền thuật có tính cách võ dũng, chứa đựng vài thế vật, binh khí và nội công;
    - và cầm nả thuật.
    Phải thêm vào đó những môn khí công; thịnh hành nhất là :
    - Trạm thung công,
    - Bát đoạn cẩm,
    - Dịch cân kinh hay Dịch cân pháp,
    - Ngũ cầm hí,
    - Đại nhạn công,
    - Hạc tường trang khí công...
    Người Trung Hoa có hai cách phân chia Võ Thuật : một cách dựa theo địa thế, một cách dựa theo khuynh hướng.
    I- Nam phái và Bắc phái
    1) Trình bày
    Một tục ngữ mà chúng ta thường nghe trong giới võ thuật Trung Hoa, là "Nam quyền Bắc thoái". Theo tục ngữ đó, phía nam sông Trường Giang (hay Dương Tử Giang) võ phái thường dùng quyền, còn phía bắc sông Trường Giang võ phái chuộng đòn chân. Chúng ta có thể hiểu theo hai nghĩa :
    - quyền thuật phương Bắc sử dụng đòn đá hơn đòn tay, còn quyền thuật phương nam dùng đòn tay hơn đòn chân;
    - ngược lại với Nam quyền thuật, Bắc quyền thuật dùng chân để phát lực.
    2) Luận bàn
    Cách phân chia nầy không được chính xác lắm, vì ta có thể tìm thấy vài trường hợp vượt ra ngoài lệ ấy :
    - Hình Ý Quyền là một môn quyền thuật của hai tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây, tức là ở phương Bắc, nhưng lại ít sử dụng đòn đá;
    - môn Bát Cực Quyền củng vậy;
    - Hoàng Phi Hồng (1847-1924), danh tài Nam quyền thuật, nổi tiếng nhờ cước pháp;
    - Mộc Gia, quyền thuật của tỉnh Quảng Đông, có tiếng nhờ đòn đá,
    - Thái Lý Phật, một trong những danh phái tại tỉnh Quảng Đông, có rất nhiều thế đá;
    - Hồng Gia, một phái khác của tỉnh Quảng Đông, dùng tấn pháp thật rộng (còn gọi là đại mã), và dùng chân để phát lực;
    - môn Cẩu Quyền, Nam quyền thuật, dựa vào đòn đá để chiến đấu...
    Ngoài những trường hợp trên, ta có thể nói là quyền thuật Nam phái sử dụng nhiều đòn tay hơn những môn Bắc phái. Còn võ thuật phương bắc giàu kỹ thuật hơn : ngoài những đòn đánh hay đòn đá lại có nhiều thế hất, nhiều thế cầm nả tinh xảo...
    Nhưng chúng ta không nên coi tục ngữ đó như một sự phân chia chính xác. Đây là một cách vắn tắt một sự kiện bằng bốn chữ "Nam quyền Bắc thoái".
    3) Hai sự phân chia khác
    Năm 1911, Tinh Võ Thể Dục Hội đề nghị cách sắp xếp theo những con sông quan trọng của Trung Hoa. Cách sắp xếp đó như sau :
    -những môn phái nằm trên vùng đồng bằng sông Trường Giang,
    -những môn phái nằm trên vùng đồng bằng sông Hoàng Hà,
    -những môn phái nằm trên vùng đồng bằng sông Châu Giang.
    Vì những trao đổi văn hóa và kỹ thuật lúc xưa thường theo dòng sông mà lưu hành.
    Theo chúng tôi nghỉ, nếu muốn được chính xác hơn, ta phải sắp xếp võ thuật Trung Hoa theo những trung tâm phát triển. Những môn quyền cùng một nơi sẽ ảnh hưởng lẩn nhau.
    Những trung tâm phát triển danh tiếng của võ thuật Trung Hoa là :
    -Tung Sơn tại tỉnh Hà Nam,
    -Quán huyện và Lao Sơn tại tỉnh Sơn Đông,
    -Thương Châu tại tỉnh Hà Bắc,
    -Quảng Châu và Phật Sơn tại tỉnh Quảng Đông,
    -Phước Châu tại tỉnh Phước Kiến,
    -Nga Mi Sơn tại tỉnh Tứ Xuyên, vân vân...
    II- Nội Gia và Ngoại Gia
    1) Trình bày
    Từ thế kỷ thứ 19, theo một truyền kỳ, võ thuật Trung Hoa được chia ra hai khuynh hướng đối nghịch nhau :
    - quyền thuật thuộc Nội Gia bao gồm :
    - Thái Cực Quyền,
    - Bát Quái Chưởng,
    - Hình Ý Quyền,
    lại có học giả thêm vào đó :
    - những quyền thuật thuộc núi Võ Đang, và
    - Lục Hợp Bát Pháp Quyền;
    - và quyền thuật thuộc Ngoại Gia bao gồm tất cả những môn quyền pháp còn lại.
    Nhiều giải thích được nêu ra :
    - những môn Nội Gia Quyền gốc từ núi Võ Đang và những môn Ngoại Gia Quyền xuất từ núi Tung Sơn; người ta còn gọi Nội Gia Quyền là Võ Đang Môn và Ngoại Gia Quyền là Thiếu Lâm Môn ;
    - Nội Gia Quyền dùng Khí và Ngoại Gia Quyền dùng Lực ;
    - động tác trong Nội Gia Quyền mềm dẻo và chậm đều, động tác của Ngoại Gia Quyền cương ngạnh và nhanh lẹ;
    - Nội Gia Quyền thủ nhiều hơn công, Ngoại Gia Quyền công nhiều hơn thủ;
    - Nội Gia Quyền xuất từ Đạo gia, Ngoại Gia Quyền gốc từ Phật gia;
    - Nội Gia Quyền luyện trong nhà, Ngoại Gia Quyền tập ngoài sân;
    - vân vân...
    2) Luận bàn
    Nhưng khi ta xét kỷ lại :
    - ba môn chánh trong Nội Gia không có gốc từ núi Võ Đang (Thái Cực Quyền xuất từ tỉnh Hà Nam, Hình Ý Quyền từ tỉnh Sơn Tây, Bát Quái Chưởng từ tỉnh Hà Bắc),
    - những môn nầy không phải những môn duy nhất xử dụng Nội Công,
    - trong Nội Gia có môn Hình Ý Quyền dùng động tác nhanh lẹ và cương ngạnh,
    - và Nội Gia Quyền chỉ mới hấp thụ lý thuyết Đạo gia sau nầy;
    và :
    - có những môn thuộc Ngoại Gia không xuất phát từ chùa Thiều Lâm,
    - Ngoại Gia Quyền không chỉ chú trọng luyện Lực mà còn luyện Nội Công (theo truyền thống của Thiếu Lâm Quyền, môn phái vừa cương vừa nhu, có nội và ngoại công),
    - trong Ngoại Gia có vài môn chủ trương động tác nhu nhuyễn,
    - Ngoại Gia Quyền không xuất phát cả từ Phật gia (theo truyền thuyết, Bạch Mi Quyền được sáng lập bởi một đạo sỉ);
    và để cho một ví dụ :
    - chiến đấu pháp của Hình Ý Quyền (thuộc Nội Gia) rất tương tự với chiến đấu pháp của Bát Cực Quyền (thuộc Ngoại Gia);
    nên ta rất nghi ngờ những định nghĩa nêu trên về Nội và Ngoại Gia.
    3) Nghiên cứu lịch sử
    Chúng ta phải phân biệt ra hai Nội Gia Quyền : một võ phái và một nhóm bao gồm ít nhất ba võ phái.
    a) Nội Gia Quyền cổ truyền
    Theo sự hiểu biết hiện nay, danh từ Nội Gia bắt nguồn từ văn hào kiêm triết học gia Hoàng Tông Hy (1610-1695), và được ông ghi lại trong bài "Vương Chinh Nam mộ chí minh" viết vào năm 1669.
    Nội Gia Quyền vào thời đó là tên của một võ phái với lý thuyết đối lập với lý thuyết của Thiếu Lâm Quyền (dĩ tỉnh chế động, dỉ khí vận lực, dỉ nhu khắc cương, hóa kình, vân vân...). Theo Hoàng Tông Hy, người tổ khai sáng môn phái là Trương Tam Phong, một đạo sỉ danh tiếng tại núi Võ Đang (vào thế kỷ thứ 12 hay 15, vì có hai đạo sỉ trùng tên sống vào hai thời đại khác nhau).
    Để đáp lại với núi Tung Sơn, núi của Phật Giáo, người ta đã đưa ra núi Võ Đang, núi của Đạo Giáo. Và người đã đối nghịch Đạt Ma (thế kỷ thứ 6), một tăng sỉ, với Trương Tam Phong, một đạo sỉ.
    Như vậy Vương Chinh Nam (1617-1669), Hoàng Tông Hy và con của Tông Hy là Hoàng Bách Gia (1634-?) có luyện Nội Gia Quyền. Và Hoàng Bách Gia có truyền lại quyển "Nội Gia Quyền pháp", một quyển sách đã ảnh hưởng rất nhiều môn Nội Gia hiện đại.
    Cho tới nay, ta tưởng là môn Nội Gia Quyền đã bị thất truyền. Nhưng vào đầu thế kỷ thứ 20, Trần Hiểu Đông (1871-1934) và Vương Vệ Thận công khai truyền dạy chi phái Tòng Khê Nội Gia Quyền...
    b) Nội Gia Quyền hiện đại
    Sự phân chia nầy xẩy ra tại Bắc Kinh, vào năm 1894, khi Bát Quái Quyền sư Trình Đình Hoa (1848-1900) (đệ tử của Đổng Hải Xuyên, người sáng lập ra Bát Quái Chưỡng), Hình Ý Quyền sư Lưu Vĩ Lan, Lý Tồn Nghỉa (1847-1921) và Dương gia Thái Cực Quyền sư Lưu Đức Khoan (?-1911) (đệ tử của Dương Lộ Thiền) đề nghị hợp ba môn quyền thuật nầy lại làm một môn phái riêng biệt lấy tên là Nội Gia Quyền...
    Sau đó Tôn Lộc Đường (1861-1933), đệ tử của Trình Đình Hoa, trong quyển sách "Bát Quái Quyền học", xuất bản vào năm 1916, xác nhận là Trương Tam Phong là tổ của môn Nội Gia Quyền, và ghi là Thái Cực Quyền, Hình Ý Quyền và Bát Quái Chưởng thuộc môn Nội Gia.
    Vào năm 1921, Hứa Vũ Sinh trong quyển "Thái Cực quyền thế đồ giải", cho Trương Tam Phong là tổ của môn Thái Cực Quyền. Và ông lại nhập cây phả hệ của Thái Cực Quyền vào cây phả hệ của Nội Gia Quyền.
    Ông cho là Vương Tông, thuộc Nội Gia Quyền, học trò của Trương Tam Phong (thế kỷ thứ 15) là Vương Tông Nhạc (thế kỷ thứ 18). Nhưng Vương Tông là người tỉnh Thiểm Tây sống vào thế kỷ thứ 15 còn Vương Tông Nhạc là người tỉnh Sơn Tây sống vào thế kỷ thứ 18 !
    Hứa Vũ Sinh cho bắt nguồn từ Vương Tông Nhạc hai chi phái :
    - Nam phái Thái Cực Quyền với những danh sư của Nội Gia Quyền như Trần Châu Đồng (thế kỷ thứ 16), Trương Tòng Khê (thế kỷ thứ 16), Diệp Cận Tuyền, vân vân, ba người nầy đều là người tỉnh Triết Giang,
    - Bắc phái Thái Cực Quyền với những danh sư của Thái Cực Quyền như Tưởng Phát (thế kỷ thứ 16 và 17), Trần Trường Hưng (thế kỷ thứ 18), người tỉnh Hà Nam, Dương Lộ Thiền, người tỉnh Hà Bắc, vân vân...
    Và từ đó, gần như ai củng xác nhận là Thái Cực Quyền là thuộc Nội Gia đối lập với Thiếu Lâm Quyền, thuộc Ngoại Gia.
    Mặc dầu vào năm 1939, Hứa Vũ Sinh trong quyển "Thái Cực Quyền", đính chánh sự sai lầm của cuốn sách trước của ông.
    Sự phân tách hiện đại của võ thuật Trung Hoa ra hai đại môn phái Nội Gia và Ngoại Gia phát xuất từ một sự ngụy tạo hóa lịch sử võ thuật Trung Hoa, chớ không dựa vào nguyên tắc hay phương pháp luyện tập khác biệt, như ta có thể lầm tưởng !
    4) Kết luận
    Để kết thúc phần nầy, chúng tôi xin tóm tắt lại :
    - hiện nay, có ba loại Nội Gia Quyền :
    - môn Nội Gia Quyền xưa phát sinh từ thế kỷ thứ 17, mà tới những năm gần đây người ta tưởng là thất truyền,
    - những môn võ cận đại tụ hợp trên núi Võ Đang nhằm mục đích thỏa mãn sự đòi hỏi của du khách (những môn nầy có gốc từ Dương gia Thái Cực Quyền, quyển sách của Thích Kế Quang, Bát Cực Quyền, Bát Quái Chưởng...) và
    - một nhóm bao gồm Thái Cực Quyền, Bát Quái Chưởng và Hình Ý Quyền, nhóm nầy được hình thành vào thế kỷ thứ 19;
    - và có ba loại Ngoại Gia Quyền :
    - cổ Thiếu Lâm Quyền dạy tại chùa trước thập niên 1980,
    - tân Thiếu Lâm Quyền hiện dạy tại chùa, môn nầy một phần có gốc từ môn Thiếu Lâm xưa,
    - những môn võ hiện nay tự xưng có gốc từ chùa Thiếu Lâm.
    III- Cựu và Tân Võ Thuật
    Để kết thúc bài báo nầy, chúng tôi muốn đề nghị một sự sắp xếp thứ ba, vì hiện nay, nhiều thầy võ dạy lẩn lổn những môn võ truyền thống có tính cách võ dũng, và những môn võ tân thời có tính cách thể thao và biểu diễn. Ta phải phân biệt rõ rệt hai nhóm võ thuật nầy.
    Những môn võ tân thời, ngoài vài môn (Ý Quyền, Kim Cang Thiền Tự Nhiên Môn...), không có thực dụng chiến đấu. Những môn nầy có tính cách biểu diễn đoạt huy chương.
    Những môn võ truyền thống, ngoài vài môn, có áp dụng chiến đấu và tác dụng dưỡng sinh.
    Nguyễn Quí Jacques và Dufresne Thomas
    (Trích từ "Dictionnaire des arts martiaux chinois", Paris, 1996)
     
  4. Van An

    Van An New Member

    Tham gia ngày:
    11/8/17
    Bài viết:
    18
    Đã được thích:
    4
    Vào Thiếu Lâm Tự để đổi đời

    Cuối tháng 3 vừa qua, Thiếu Lâm Tự đã mở một cuộc thi tìm thần tượng võ thuật mới cho bộ phim võ thuật Made in Thiếu Lâm Tự. Thiếu Lâm Tự ngày nay có nhiều đổi thay đáng nói...

    Tường gạch đỏ, mái rêu xanh, tùng bách um tùm, Tổ đình Tung Sơn Thiếu Lâm Tự nằm ẩn dưới Ngũ Nhũ Phong, trong bóng âm của núi Thiếu Thất, huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, vẫn giữ được nét cổ sơ của 1.500 năm về trước. Hằng ngày vào lúc 4h sáng, các võ tăng đều thức dậy tụ tập trước sơn môn rồi chạy bộ vòng quanh núi ra sau lên đỉnh đến Đạt Ma Động. Người thường chạy một vòng phải mất cả tiếng, mệt bở hơi tai, nhưng các võ tăng vừa chạy vừa vung quyền chỉ mất khoảng nửa tiếng. Trong số này có nhiều võ sinh nhí.

    Những sa di mới đến Thiếu Lâm Tự mỗi sáng đều phải học các môn ngữ văn, số học, lịch sử, địa lý, tiếng Anh, vi tính..., buổi chiều đọc kinh, tham thiền, luyện công, được tự do đọc sách hoặc lên mạng Internet. Năm giờ chiều tập trung học bữa tối để báo đáp ân Đức Phật Thích Ca. Thời khóa biểu hằng ngày luôn là như thế, không thay đổi. Nhưng có những thay đổi rõ ràng tại Thiếu Lâm Tự hiện đại: nhiều tăng nhân ngồi tựa trước cổng đại điện vừa cười một mình vừa bấm tin nhắn. Buổi sáng quét chùa không phải là tăng nhân mà là các nhân viên vệ sinh được thuê đến. Bảo vệ chùa cũng không phải là “tứ đại hộ pháp” mà là các vệ sĩ lạnh lùng.

    Khắp vùng núi Thiếu Thất quanh Thiếu Lâm Tự, hàng loạt võ đường Thiếu Lâm mọc lên như nấm sau mưa, võ đường lớn nhất chiếm diện tích hơn 100 ha. 48 võ đường lớn có gắn bảng hiệu, còn lại thì không. Tổng số võ sinh lên đến hơn 30.000 (mức học phí trung bình là 6.000 nhân dân tệ/năm, khoảng 12 triệu VNĐ), trong đó số võ sinh nhí từ 5 tuổi trở lên rất đông. Những em bé này đến từ nhiều vùng của Trung Quốc, sẽ được huấn luyện võ công Thiếu Lâm chính tông, chọn ra những “hạt giống” đặc biệt để phát dương môn phái. Phần các em cũng có động cơ riêng: trở thành những ngôi sao võ thuật nổi tiếng, đóng phim để đổi đời.

    Từ võ sinh trẻ lên Tổng giáo đầu

    Có thể nói đương kim Tổng giáo đầu võ tăng Thiếu Lâm Tự - Hòa thượng Thích Diên Lỗ, là một ví dụ điển hình. Tục danh của sư là Lâm Thanh Hoa, sinh năm 1970 tại Sơn Đông, từ nhỏ đã mê võ thuật. Năm 14 tuổi, sư được phụ thân đưa lên Thiếu Lâm Tự luyện võ, mong muốn trở thành một đại anh hùng như Giác Viễn đại sư trong bộ phim Thiếu Lâm Tự (Lý Liên Kiệt thủ diễn) lúc ấy đang gây chấn động khắp nơi.

    Khởi đầu phương trượng cho Diên Lỗ đến khổ tu trong một ngôi chùa nhỏ trên núi cao ở huyện Lăng để thử lòng thành. Nơi đây chỉ có 3 vị sư già, ban ngày Diên Lỗ phải đi đốn củi nấu nước dâng trà, ban đêm học kinh kệ. Sau gần 1 năm không chịu đựng nổi nên Diên Lỗ trốn về nhà. Sau đó qua một phen đấu tranh tư tưởng quyết liệt, Diên Lỗ quyết định trở lại Thiếu Lâm Tự. Phương trượng lại cho Diên Lỗ đến Quan Âm cổ tự ở Khai Phong để khổ tu. Lần này ý đã định, Diên Lỗ cắn răng chịu đựng, quyết luyện thành Thiếu Lâm công phu. Sau được phương trượng đích thân chỉ điểm, Diên Lỗ nhanh chóng trở thành một võ tăng thiền-võ xuất sắc, vượt qua các đợt khảo thí và trở thành Tổng giáo đầu võ tăng Thiếu Lâm Tự.

    Hiện Thích Diên Lỗ là một trong Tứ đại kim cang được con gái của Tổng thống Nga Putin bái làm sư phụ. Sư thường dẫn tăng đoàn Thiếu Lâm đi biểu diễn khắp thế giới. Sư sở trường các tuyệt kỹ công phu như Thiết bố sam, Thiếu Lâm Ngũ hình quyền, Đại hồng quyền, Ưng trảo công, Thiếu Lâm xuân thu đại đao. Tiết mục “Đâm thương” của sư đã đoạt huy chương vàng trong Đại hội Wushu thế giới. Sư cũng là người chỉnh lý bộ sách Trung Quốc Tung Sơn Thiếu Lâm Tự võ công bí kíp.
     

Chia sẻ trang này