vhlong
Đai Trắng

Thành Viên Diễn Đàn.
Posts: 1
|
Lư thuyết vơ thuật cơ bản Trong vơ thuật, đ̣n đánh là khái niệm dùng để chỉ những vận động của người phát lực nhằm gây ra tác động bất lợi cho đối thủ. Những tác động bất lợi đó thể hiện bằng sự tê liệt, đau đớn dữ dội, bất tỉnh, nội thương, ngoại thương hoặc cao nhất là cái chết của người bị trúng đ̣n. Các dạng đ̣n đánh: Với mục tiêu đạt được hiệu quả tính như đă nói trên, đ̣n đánh bao gồm không chỉ các đ̣n tấn công trực diện, trực tiếp, các đ̣n phản công, mà thậm chí có thể tính đến cả các đ̣n đỡ gạt dương cương nếu các chiêu thức đó gây ra được chấn thương cho đối phương, như sự hóa giải đ̣n của đối phương bằng một vũ khí mạnh mẽ hơn (chẳng hạn khi bị đối phương tấn công bằng đ̣n chân, ta dùng tay đỡ của ḿnh chặt mạnh hay đấm mạnh vào ống chân, đầu gối đối phương). Tuy nhiên, sẽ không được gọi là đ̣n đánh nếu các động tác đỡ gạt đó không gây ra chấn thương cho đối phương mà chỉ là sự triệt tiêu lực kiểu "dẫn đ̣n đối phương vào khoảng không" thường được các vơ phái nhu quyền sử dụng, khi đó đ̣n đỡ gạt được gọi là đ̣n hóa giải. Tên gọi của đ̣n đánh: Tùy cách thức thực hiện đ̣n đánh và tùy thuộc cả các vơ phái, tên gọi của các đ̣n đánh có thể rất khác nhau. Trong khi có những vơ phái sử dụng các tên gọi thiên về tính h́nh tượng và ẩn dụ th́ một số vơ phái khác lại sử dụng các tên dân dă và trực tiếp. Một số ví dụ sơ lược: Hoa quyền sử dụng tên Bàng long cước để chỉ đ̣n đá bằng cạnh bàn chân, trong khi Taekwondo chỉ đơn thuần gọi là Đá tống ngang (Yeop-chagi); hay đ̣n xoay tay mang tên Vân thủ (tay mây) trong Thái Cực quyền, Vịnh Xuân quyền chỉ gọi bằng tên đơn giản là Khuyên thủ (tay quay tṛn). Bởi vậy, khi bàn về tên gọi của các đ̣n đánh hầu như không thể có một đáp số chung cho mọi chiêu thức. Trong thực tế tên gọi các đ̣n đánh trong tiếng Việt có thể được quy ước bằng rất nhiều dạng vắn tắt như đấm, đá, đạp, chặt, đâm, móc, đập, ép, chặn, thúc, lên gối, huưch (chỏ), húc (đầu) v.v. Sức mạnh đ̣n đánh: Sức mạnh của đ̣n đánh trong vơ thuật biểu hiện tính hiệu quả của lực tác động từ người tấn công đến mục tiêu (chẳng hạn như cơ thể đối phương). Sức mạnh đó được thực hiện bằng cách vận dụng, thu góp tất cả năng lực phát sinh ra từ sự co lại của các bắp thịt rồi dồn tất cả năng lực ấy vào mục tiêu, nhất là các yếu điểm trên cơ thể đối phương trong đó có các huyệt đạo. Các nguyên tắc thực hiện đ̣n đánh: Sức mạnh và tính hiệu quả của đ̣n đánh chỉ có được nhờ các yếu lĩnh, nguyên tắc đă được vơ sinh tập luyện nhuần nhuyễn Tập trung sức lực: Trước hết, sức mạnh chỉ có được khi tập trung sức đúng lúc, đúng chỗ dựa theo nguyên tắc khi đấm hoặc đá, năng lực di chuyển từ trung tâm cơ thể tới các phần khác của cơ thể với vận tốc 1/1000 giây. Thời gian từ khi bắt đầu đến khi kết thúc động tác chỉ kéo dài khoảng 1/5 đến 1/18 giây nếu ta thực hiện đúng kỹ thuật và tập trung. Điểm chạm: Điểm chạm mục tiêu càng nhỏ càng tốt nhằm hỗ trợ sức xuyên thấu và tập trung lực của đ̣n đánh, phải đánh với diện tích tiếp xúc nhỏ nhất bằng cách tập trung lực tối đa vào đầu vũ khí sẽ tác động đến mục tiêu. Chọn loại vũ khí cơ thể phù hợp nhất cho mỗi đ̣n đánh, chẳng hạn các đ̣n x** ngón tay dẫn đạo trong Triệt Quyền Đạo hay chọt thẳng bằng nắm đấm với ngón giữa nhô lên mang tên Bam-joomeok trong Taekwondo tạo ra một diện tích tiếp xúc nhỏ, bao giờ cũng gia tăng hiệu quả đâm xuyên huyệt đạo hơn là các đ̣n đập bằng cạnh ngoài, cạnh trong nắm đấm hay gơ bằng lưng nắm đấm. Độ cứng: Độ cứng của món binh khí đem dùng hết sức quan trọng để giúp người ra đ̣n không bị chấn thương do phản lực khi đ̣n chạm mục tiêu, đồng thời gia tăng đặc tính xuyên phá của đ̣n. Độ cứng của đ̣n đánh ra phụ thuộc vào vật ra đ̣n (cạnh tay, mũi bàn tay, đầu gối, cùi chỏ v.v.), cách sử dụng nó và yếu tố quyết định là việc khổ luyện thường xuyên liên tục những phần vũ khí cơ thể đó trên những vật cứng như bao cát, gạch, ngói, gỗ bản v.v. Vận tốc ra đ̣n: Vận tốc ra đ̣n được đặc biệt lưu ư, trong mối tương quan với diện tích tiếp xúc, sức mạnh của đ̣n đánh tỷ lệ thuận với vận tốc và tỷ lệ nghịch với diện tích tiếp xúc, theo đó diện tích tiếp xúc càng nhỏ, vận tốc càng lớn th́ lực đánh ra càng mạnh. Một cao thủ Karate có thể đạt vận tốc tối đa là 43 feet tương đương khoảng 129m/giây, đồng thời phát ra một lực công phá khoảng 1.500 pound (tương đương với 750kg). Giải phóng khí: Một yếu tố nữa cũng hết sức quan trọng, đó là tiếng thét vào thời điểm ra đ̣n. Tiếng thét đó tạo nên sự giải phóng năng lượng đă được dồn nén, tích trữ, có tác dụng cướp tinh thần đối phương và hỗ trợ phát lực hữu hiệu. Thét như một quả bom nổ sát cạnh địch thủ, để tần số âm thanh vọt lên đến 16.000 xung động một giây, nói cách khác là thét với một thời gian ngắn nhất mà cường độ âm thanh và tần số dao động cao nhất. Các nguyên tắc khác: Lực công phá của đ̣n đánh c̣n được hỗ trợ bởi động tác xoay hông mà không chỉ đơn thuần là lực của cơ tay hay cơ chân. Xoay hông khi tung quả đấm hay đ̣n đá giống như động tác xoay người của vận động viên đá cầu, phải vừa nhẹ nhàng vừa nhanh, đồng thời phải thích ứng với năng lực tung ra. Năng lực phát ra do xoay hông được truyền tới cột sống rồi đến các bắp thịt của ngực và vai, cuối cùng tới cánh tay, hoặc đến các bắp thịt của hông, đùi và từ đó truyền đến bàn chân, đầu gối. Cũng không hiếm khi, với sự hỗ trợ của xước mă, xoáy đ̣n hay nhảy lên tấn công (xem Đá bay), lực đánh sẽ được tăng cường đáng kể. Không theo lư giải của khoa học hiện đại mà dựa trên những nguyên lư, ca quyết vơ thuật đúc kết nhiều đời, các vơ sư cho rằng, sức mạnh của đ̣n đánh thể hiện sự ḥa hợp của nội tam hợp (tâm hợp ư, ư hợp khí, khí hợp lực) và ngoại tam hợp (tay hợp chân, chỏ hợp gối, vai hợp háng) gọi tắt là lục hợp. Thêm vào đó, các vơ phái đều nhấn mạnh đến các yếu quyết khác nhằm gia tăng tính hiệu quả của đ̣n đánh ra, chẳng hạn như nguyên tắc bảo mật (không lộ ra kế hoạch tấn công và phương án pḥng thủ), bảo toàn (tấn công địch với tổn thất ít sức lực nhất, giữ đều nhịp thở, ra sức vừa phải), linh hoạt (tối kị sự sáo ṃn, sử dụng đ̣n hợp lư, chiêu thức ảo diệu, trong công có thủ, trong thủ có công), lợi thế (xác định chính xác mục tiêu, động tác ảo có thể thành thực, thực có thể thành ảo trong nháy mắt), công vi thủ (tấn công là cách pḥng thủ tốt nhất).v.v... Các vũ khí cơ thể: Vũ khí cơ thể là những bộ phận trên cơ thể được sử dụng như một thứ vũ khí trong đ̣n đánh. Các vũ khí cơ thể dùng để thi triển một đ̣n đánh rất đa dạng và tùy thuộc bộ môn vơ thuật khác nhau, tuy nhiên chúng thường bao gồm những bộ phận sau: Tay (thủ) Những phần tác động đến đối thủ hiệu quả của tay như nắm đấm (với đấm thẳng, đấm ṿng cầu, đấm chéo, đấm móc, đấm xoáy); nắm đấm búa (sử dụng các khớp xương để kư, gơ khi tay được nắm thành nắm đấm); ngón tay với các đ̣n x**, đâm, chọc được coi là đ̣n đánh bằng tay dài nhất, thường dùng một ngón (nhất dương chỉ, hai ngón (ngón trỏ và ngón giữa chập lại để tăng sức mạnh tấn công hoặc x̣e hết cỡ để đâm vào hai mắt đối thủ) và cả bàn tay (khi dùng cả bàn tay th́ các ngón giữa thường được co lại để tạo độ dài bằng nhau của các ngón); cạnh tay để chặt (c̣n được gọi là Cương đao phạt mộc trong vơ cổ truyền Việt Nam, Đường lang chưởng trong vơ Trung Quốc, tay Hạc trong bài Hạc Quyền thuộc hệ thống Ngũ h́nh quyền) có thể dùng cả cạnh bàn tay và cạnh sống bàn tay; nhượng tay thường được gọi với tên thông dụng là "chưởng" dùng đánh thẳng, đánh móc; tay trảo là các ngón tay mở ra, có các dạng được gọi là Hổ trảo hay Long quyền thường dùng để móc, bấu, véo v.v. Trong thực tế người ra đ̣n thường tấn công bằng một tay, một tay khác để pḥng thủ hoặc dự pḥng tấn công, tuy nhiên cũng không hiếm khi thấy các đ̣n đánh sử dụng đồng thời cả hai tay (chẳng hạn hai tay ra đ̣n đấm đồng thời gọi là "Song phong quán nhĩ" (hai luồng gió thổi vào tai) trong Thái Cực Quyền hay mang tên "Song long xuất hải" (hai rồng ra biển) trong một số vơ phái cổ truyền. Các đ̣n đánh bằng tay thường linh hoạt và phong phú hơn hẳn các đ̣n đánh bằng chân. Thống kê ít nhiều có tính vơ đoán cho thấy trong vơ thuật số lượng đ̣n tay có thể nhiều gấp 7 lần đ̣n chân. Cùi chỏ (chẩu): Cùi chỏ được sử dụng bằng cách đ̣n chỏ tréo từ trên xuống, chỏ ngang, chỏ ṿng ngang, chỏ cắm, chỏ đánh tốc ngược lên, đánh chỏ về phía sau v.v. Số lượng đ̣n đánh sử dụng chỏ tương đối ít phong phú do tính đặc thù của vũ khí này, đặc biệt chiêu thức ra 2 đ̣n chỏ đồng thời chỉ có thể thực hiện với một số trường hợp như giật hai chỏ về sau hoặc đánh tạt hai chỏ ngang. Đ̣n chỏ rất có uy lực khi nhập nội và các chiêu thức dùng cùi chỏ thường được coi là tàn độc, các luật thi đấu thể thao nghiêm cấm sử dụng. Chân (cước): Đ̣n chân với những phần tấn công đến đối thủ bao gồm mũi bàn chân với các ngón chụm lại (thường dùng để đá chọt thẳng mà các vơ phái cổ truyền c̣n gọi là Kim tiêu cước); ức bàn chân dùng đá tống trước hoặc đá ṿng cầu) cạnh chân đá tống ngang; gót chân đá chẻ, đá hất ngược, đá móc ṿng gót hay đá láy; mu bàn chân đá búng, đá vẩy thường tấn công thấp vào hạ bộ đối phương; ống chân thường dùng khi thực hiện các đ̣n quét v.v. Đôi chân được sinh ra dùng chống đỡ sức nặng cơ thể nên tự thân nó đă rất chắc chắn, mạnh mẽ. Đó vừa là điểm hạn chế vừa là điểm ưu của đ̣n chân: các đ̣n chân ít linh hoạt hơn đ̣n tay nhưng lại có uy lực rất lớn. Bởi vậy, ít có công phu luyện sức mạnh của đ̣n chân mà thường môn sinh luyện trụ vững bằng các thế tấn, luyện sự linh hoạt cho đôi chân bằng các động tác xoạc, hất, đồng thời luyện điểm tiếp xúc, phương thức ra đ̣n chính xác bằng các dụng cụ hỗ trợ như bao cát, tấm nốp để đá. Đầu gối (chàng): Đ̣n đánh bằng đầu gối có sức mạnh khủng khiếp, cùng với đ̣n đánh bằng chỏ là hai bộ phận thường bị các luật thi đấu vơ thuật, với tính chất thể thao, nghiêm cấm sử dụng. Đ̣n đánh bằng đầu gối thường dùng tấn công khi nhập nội với các đ̣n đánh gối thẳng, đánh gối ṿng cầu, đánh gối từ trên xuống, đánh gối hất từ dưới lên. Đầu (thủ): Đầu thường dùng để húc, đập. Có một số vơ sư luyện chiêu thức Thiết đầu công, như đại lực sĩ Hà Châu là một ví dụ, tạo ra cho đ̣n đánh bằng đầu một uy lực cực mạnh khi tấn công đối thủ. Tuy nhiên chiêu thức tấn công bằng đầu rất khó luyện, nhạy cảm v́ gắn trực tiếp với năo bộ rất dễ dẫn đến chấn thương trầm trọng nên hiện cũng ít môn đồ luyện tập thành thục. Một số vũ khí cơ thể khác: Thật hiếm hoi khi thấy ngoài chân, tay, chỏ, gối, đầu là các vũ khí cơ thể thông dụng nhất c̣n có vũ khí cơ thể nào khác. Tuy nhiên, đôi khi ta vẫn thấy vai, hông được luyện tập trong các chiêu thức huưch, đẩy mặc dù rất ít phổ biến như một đ̣n vai, đ̣n hông đơn lẻ mà thường sử dụng để hỗ trợ cho các đ̣n đánh bằng các vũ khí cơ thể khác. Điểm đánh (mục tiêu tấn công): Điểm đánh là những phần trên cơ thể đối phương được các vũ khí cơ thể coi như mục tiêu tấn công, hay nói khác đi, điểm đánh là cái đích của đ̣n đánh. Điểm đánh thường là các bộ phận nhạy cảm (như đầu, mặt, mắt, cổ, ngực, vùng tim, hạ bộ, vùng thận v.v.), các huyệt đạo (như huyệt Thái Dương, huyệt Mi Tâm, huyệt Chấn Thủy v.v.), các chỗ sơ hở trong pḥng thủ của đối phương. Phần lớn các điểm đánh nguy hiểm nhất nằm trên đường thẳng trung tâm của cơ thể (c̣n gọi là trung lộ) hoặc các vị trí đối xứng nhau qua đường trung lộ. Góc độ ra đ̣n (góc đánh): Góc độ ra đ̣n là việc sử dụng hiệu quả thân pháp để di chuyển quanh đối thủ nhằm t́m vị trí tung đ̣n đánh tốt nhất. Nhưng không chỉ có vậy, sự cải tiến góc độ ra đ̣n là sự luyện tập thay đổi vị trí chiến đấu để xóa tan các đ̣n đánh của địch thủ trong khi tạo cho bạn một vị trí tung đ̣n thuận lợi hơn. Với ư nghĩa như vậy, góc độ ra đ̣n được nhận thức đúng đắn, thi triển hữu hiệu sẽ trở thành một trong những phương thức hỗ trợ tốt nhất để người ra đ̣n giành chiến thắng trong các cuộc chiến, hay nói cụ thể hơn là khi người ra đ̣n di chuyển quanh đối thủ và chú tâm t́m góc độ tung đ̣n thích hợp th́ người ra đ̣n có cơ hội tốt nhất để tung đ̣n đánh vào địch và địch ít có cơ hội nhất để tung đ̣n đánh vào bạn. Việc luyện tập thân pháp hiệu quả cũng giúp cho bản thân bạn, trong bất cứ hoàn cảnh nào dù là trên đường phố hay trên sàn đấu, đều tốn ít năng lượng hơn khi tung đ̣n, di chuyển ngắn hơn và trở nên nhanh nhẹn hơn nhiều. Góc độ ra đ̣n nhiều khi được quy chuẩn bằng cách chú mục vào đường thẳng trung tâm của đối thủ (trung lộ). Khi đối thủ tấn công vị trí của đường thẳng này di chuyển và người bị tấn công sẽ nhanh chóng chuyển vị để khiến đường trung lộ của đối thủ bộc lộ sơ hở. Tuy nhiên, góc độ ra đ̣n cũng có thể thực hiện bằng các phương thức lẩn ra sau người đối thủ. Các phương thức luyện tập để t́m góc độ ra đ̣n rất phong phú, tùy thuộc vào môn vơ và tùy thuộc sở trường của mỗi môn sinh, trong đó đặc biệt phổ biến các động tác bước mở (ví dụ bước chân trước chệch sang hướng tréo 45 độ về bên trái), bước khép (như bước chân trước chệch sang hướng bên phải 45 độ), bước xoay (như dồn trụ lên chân trước và tiến hành quay chân sau một góc khoảng 45 độ khi đang đứng kiềm dương tấn), bước lướt (xước mă), bước nhảy lùi về sau v.v. Một ví dụ điển h́nh của việc tạo góc độ ra đ̣n thuận lợi: hăy tưởng tượng bạn và đối thủ đứng trên mặt đồng hồ. Bạn ở số 6 và nh́n về số 12 trong khi đối thủ đang đứng sau lưng bạn. Khi hắn tấn công và nắm lấy vai bạn từ phía sau, bạn bước lệch chân trước lên một bước rộng hơn vai hoặc có thể bước về con số 2 tưởng tượng bằng chân phải và bước chân trái về con số 10, khi đó bạn đă thoát khỏi khu vực bị kiềm chế và c̣n có được không gian tối ưu để phản đ̣n.
|