Welcome, Guest. Please Login.
Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket
08.09.2010 at 22:32:10
News: Nếu muốn đăng kư làm thành viên, xin đọc kỹ Chủ Trương & Nội Qui Diễn Đàn (trong phần "Thông Báo của BQT") rồi email cho ktvt@ymail.com. Trong ṿng 7 ngày kể từ khi đăng kư, cần gửi ít nhất 1 bài để xác minh việc đăng nhập thành công. Nếu không, nick của bạn sẽ bị khoá.


Pages: 1 2 3 
Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho! (Read 2274 times)
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #20 - 29.07.2009 at 04:42:47
 
Nói chuyện Trư Bát giới  
 
Để tượng trưng cho những bản năng rất vật dục và tầm thường nơi con người, Bát giới được cách điệu hóa thành một nhân vật nửa người nửa thú. Cái phần may mắn thuộc về người th́ lại quá dung tục: bụng phệ, quần áo xốc xếch trễ tràng, hay nói dối, khéo biết nịnh, lười biếng, ham ngủ, thích đùn việc cho kẻ khác mà lỡ khi không thối thác được, phải đành cáng đáng đảm đương th́ chàng bèn vênh váo, ra mặt ta đây.  
Bát giới rất ham ăn, ăn nhiều chừng nào cũng được, ăn theo kiểu thực bất tri kỳ vị (không biết mùi mẽ món ăn ra sao). Chuyện xảy ra ở quán Ngũ trang, núi Vạn thọ, là một trong những trường hợp tiêu biểu. Ở Hồi thứ 24, sau khi Tề thiên chia phần cho ba anh em mỗi người một quả nhân sâm, th́ Bát giới “vừa cầm lấy quả, đă phồng mồm trợn mắt, đút tỏm vào miệng, nhai ngốn ngấu nuốt ực xuống bụng...” Rồi chàng hỏi: “Các anh ăn ǵ đấy?  Mùi vị ra sao?” Chàng thú nhận: “...em ăn vội quá  chẳng biết mùi vị ra sao cả, chẳng biết nó có hột hay không nữa...”  
 
Bát giới c̣n có tánh... ẩu, ăn nói bạt mạng. Ở Hồi thứ 19, khi đă nhận Đường tăng làm thầy, trước phút lên đường thỉnh kinh, trước cái giờ bắt đầu thực hiện sứ mạng thiêng liêng cao cả, Bát giới vẫn rán... gỡ gạc: “Thưa sư phụ, con đă nhận giới hạnh của bồ tát  ở nhà bố vợ ăn chay giữ giới, không bao giờ ăn mặn, nay gặp sư phụ con xin phá giới một bữa.”
 
Hay như Hồi thứ 23, khi mấy thầy tṛ tá túc qua đêm tại nhà bà góa họ Giả có ba cô con gái nheo nhẻo chưa chồng, muốn kén mấy thầy tṛ làm rể, ứng cử viên Bát giới mau mắn t́m cách loại bỏ ngay “đối thủ số một” là chính sư phụ ḿnh. Trước mặt bà mẹ góa, Bát giới nói: “Thưa mẹ, mẹ hăy thuyết phục các em đừng có quá kén chọn như thế. Như thầy Đường tăng của con, tuấn tú đẹp trai thật, mà không dùng được việc ǵ đâu.”  
 
Bà mẹ nghe vậy, cẩn thận khuyên Bát giới nếu muốn cưới vợ th́ phải thương lượng với sư phụ, chàng ta gạt phắt: “Không cần phải thương lượng. Ông ấy có phải bố đẻ con đâu. Muốn hay không là do con tất.”  
 
V́ chỉ có một ứng cử viên mà lại đến những ba nàng con gái, bà mẹ góa than thở: “Gả đứa lớn th́ sợ đứa thứ hai tị. Gả đứa thứ hai th́ sợ đứa út tị. Muốn gả em út cho con lại sợ đứa lớn tị...” Bát Giới sốt sắng đề nghị: “Nếu sợ các em tranh nhau, th́ mẹ gả tất ba em cho con là xong, đỡ phải căi nhau ầm ĩ, làm rối gia đạo.  Giá mà thêm mấy cô nữa, con rể mẹ cũng sẵn sàng thu nhận. Thuở nhỏ, con đă học được phép nhẫn nại, có bao nhiêu vợ con cũng có cách ăn ở được vừa ḷng.” Và đến khi bà mẹ bảo rằng các con bà không chịu lấy Bát giới làm chồng, anh chàng ứng xử thật mau mắn: “Mẹ ạ, các em không chịu lấy con, hay là mẹ lấy con vậy.”  
 
Tóm lại, đối với chuyện hưởng lạc thú trần tục, Bát giới vốn giàu sáng kiến, nhanh trí không ai bằng.  
 
Là nhân vật nửa người nửa thú, v́ cái đầu heo mà Bát giới mang họ Trư. Trư là heo; chữ Hán viết trư với bộ thỉ, và thỉ cũng là heo. Ba lần heo cả thảy! Cái đầu vốn được coi là nơi chỉ huy mọi tư duy của con người. Tất cả những vận động tư duy của họ Trư thông qua cái đầu heo như vậy đố làm sao khỏi mang “dấu ấn” của... heo!  
 
Thế th́ trăm cám đổ đầu heo. Lư lịch trích ngang của Bát giới cho thấy chàng mới vào đời đă có... tiền án, tiền sự rồi. Thuở c̣n làm Thiên bồng Nguyên soái cai quản sông Trời (Thiên hà), một lần dự tiệc chiêu đăi tại cung Diêu tŕ, quan anh lỡ vui quá chén, say xỉn, nhè đi lạc vô cung Quảng hàn, dở tṛ bốc hốt cô Hằng Nga. Đội tuần tra nhà Trời (tức là Củ soát Linh quan) bèn bắt giữ và truy tố quan ra ṭa về tội quấy rối t́nh dục. Thượng đế đề nghị mức án cao nhất là tử h́nh (chém đầu).  
 
Rủi ro cho quan là Thiên đ́nh không có... án treo. Thành thử, dù Thái bạch Kim tinh hết sức vận động mà cũng chỉ có thể xin giảm án xuống mức thấp nhất là đánh hai ngàn gậy và đày biệt xứ (bắt hạ trần). Bát giới do nghiệp lực dẫn dắt, không dè sanh nhằm đúng... ổ heo!  
 
Gắn cho Bát giới chiếc đầu heo, phải chăng Ngô Thừa Ân đă cố t́nh buộc anh chàng vào những rắc rối tính dục? Nếu Sigmund Freud (1856-1939) có dịp phân tích, biết đâu sẽ thêm được vài phát kiến bổ sung cho lư thuyết về tính dục của ông. Trong truyện Tây du ít ra có hai đoạn tiêu biểu.  
 
Một, ở Hồi thứ 23, đoạn kể bà góa họ Giả kén rể. Để giúp Bát giới chọn một trong ba cô con gái làm vợ, bà gợi ư: “Ba đứa con gái ta khéo tay lắm, đứa nào cũng có móc một chiếc áo lót bằng sợi gấm trân châu, con mặc vừa áo của đứa nào, th́ mẹ gả đứa ấy cho.” Bát giới khoái chí, liền nhanh nhảu: “Mẹ mang ngay cả ba chiếc áo ra đây để con mặc thử, con mặc vừa tất là con sẽ lấy tất đấy.”  
 
Người đàn bà quay vào trong nhà, rồi chỉ mang ra một chiếc đưa cho Bát giới. Anh chàng cởi phăng chiếc áo gấm xanh đang mặc ra, giật lấy chiếc áo lót con gái, mặc ngay vào người...  
 
Hai, ở Hồi thứ 72, đoạn kể Bát giới trêu ghẹo bảy con yêu nữ nơn nà ở suối Trạc cấu. Khi tận mắt chứng kiến bảy cô ả đang... “trăm phần trăm” ngâm ḿnh dưới suối, trông thật tươi mát, th́ Bát giới mừng rơn, cười nói: “Các nữ bồ tát đang tắm đấy à? Cho ḥa thượng tôi tắm cùng được không?”  
 
Nói là làm. Cựu Thiên bồng Nguyên soái nhà ta ỷ ḿnh thạo nghề sông nước, liền “Cởi tuột chiếc áo dài bằng gấm thêu, rồi nhảy ṭm xuống nước  biến thành một con cá trê,  cứ nhanh như cắt luồn quanh kẽ đùi mấy nữ quái.”  
 
Nói theo ngôn ngữ tính dục của Sigmund Freud, việc khoái mặc áo lót đàn bà con gái cho thấy Bát giới có triệu chứng bị bệnh fetishism; c̣n việc ḥa thượng ta cắc cớ biến làm cá trê cứ nhè kẽ đùi con gái người ta mà quậy tưng chứng tỏ anh chàng bị cái gọi là libido chi phối.
 
Kết thúc cuộc thỉnh kinh, Đường tăng và Tề thiên đều thành phật. Sa tăng thành kim thân la hán cũng oai chán. Đến đỗi con ngựa kia cũng lột xác hóa rồng thiêng, mỹ hiệu là Bát bộ Thiên long. Lận đận duy một ḿnh anh Bát giới!  
 
Kết thúc cuộc thỉnh kinh, ở Hồi thứ 100, khi Phật tổ xét thành tích thi đua khen thưởng cá nhân tiên tiến, xuất sắc, họ Trư bị phê: “Tính ương vẫn c̣n, sắc t́nh chưa hết”. Rồi xét v́ năng khiếu “ăn khoẻ, tính lười, dạ dày to lắm”  của Trư, Như lai phong cho chàng làm Tịnh đàn Sứ giả với chức năng đặc nhiệm là có đủ thẩm quyền để... ăn uống được đồ cúng tế của khắp cả thiên hạ.  
 
Nếu coi cuộc thỉnh kinh của năm thầy tṛ Đường tăng là sự vận động tiến hóa của mỗi con người để hoàn hảo hóa bản thân, để đạt tới cứu cánh toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ, th́ sự thất bại của Bát giới phải chăng là bi kịch của kiếp người? Phải chăng cái bản năng vật dục, cái chất trư-bát-giới tiềm tàng trong mỗi con người hóa ra lại rất khó đối trị?  
 
Nếu có thể hiểu được như vậy, th́ phải chăng trong cuộc tranh đấu gian khó, quyết liệt mà vinh quang nhất của mỗi người để trở thành một con Người chính danh với chữ N viết hoa trân trọng, chung quy lại sự thành bại vẫn là tùy thuộc ở kết quả hoán cải được bản năng trư-bát-giới trong chính ḿnh?  
 
Phải chăng cái chất trư trong con người có xu hướng kéo tụt con người xuống tận cùng mọi nấc thang giá trị đạo đức, nhưng chính sự chế ngự thành công cái chất trư đó lại sẽ đưa con người tiến lên được nấc thang cao tột của giá trị con Người?  
 
LÊ ANH DŨNG
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Vài Nét Về Tổ Sư Gogen Yamaguchi
Reply #21 - 02.09.2009 at 17:36:19
 
 
Tổ sư Gogen Yamaguchi  
 
 Vài Nét Về Tổ Sư Gogen Yamaguchi
 
Thầy Gogen Yamaguchi (C̣n gọi là Người Mèo; Cat Man) sinh năm 1907 tại Kyusyu thuộc hạt Miyataki Ken, thuộc ḍng dơi samurai chính tông. Từ nhỏ, ông đă làm quen và luyên tập nhiều môn vơ, đặc biệt là Nhu đạo. Năm 20 tuổi, ông theo gia đ́nh về sống ở Kyoto và tại đây, ông bắt đầu làm quen với môn vơ Karate Goju của vơ sư Chojun Miyagi, người gốc Okinawa . Ông đă đạt tới tŕnh độ đệ ngũ đẳng Nhu đạo. Về văn hoá, ông theo hoc ngành luật và ngành y. Ông đă đậu tiến sĩ y khoa ngành cốt học, và thạc sĩ triết học Đông Phương. Ông c̣n say mê đạo học và là một tu sĩ Thần Đạo nổi tiếng. Ông luôn truyền bá phép quán tưởng, để tóc dài và ăn chay trường.
 
Dáng người thấp lùn, nặng 70 kư nhưng chỉ cao có 1,53 mét, ông không ngừng gây kinh ngạc cho những kẻ diện kiến- nhất là người phương Tây- về năng lực phi thường và vơ công ngoại hạng của ḿnh. Sinh hoạt đời thường của ông đă đủ biểu thị sức chịu đựng vô biên của một cơ thể sắt thép: luôn thực hiện đầy đủ bổn phận của một tu sĩ Thần học trong sứ mạng truyền bá phép quán tưởng, đồng thời ông tiếp tục lănh đạo rất thành công một “đế quốc” vơ thuật có quy mô toàn cầu là tổ chức Karate. Hàng ngày ông theo dơi, đôn dốc hơn 12 ngàn vơ đường và hội quán Karate Goju cả về mặt chuyên môn lẫn kinh tài. Ở địa vị tối cao trong “đế quốc” vơ thuật của riêng ḿnh, ông vẫn sát cánh bên các môn sinh trong các buổi tập quan trọng. Tốc độ ra đ̣n của ông nhanh khó thể tưởng tượng: ông có thể thi triển thế đá bay với 3 hay 4 cú một lần vào bụng, ngực và đầu đối thủ. Tập luyện ngoài trời giữa mùa đông giá, ông vẫn chỉ mặc một bộ vơ phục mỏng, đi chân đất, hướng dẫn các môn sinh leo lên các triền núi.
 
CUỘC TAO NGỘ VỚI MÔN PHÁI KARATE GOJU RYU
 
    Yamaguchi nghe nói đến môn phái Karate Goju và người lănh đạo nó, vơ sư Chojun Miyagi lần đầu tiên khi ông đang theo học tai học đường Ritsumeikan. Hồi đó, Miyagi đang ở tại thành phố Naha , trên đảo Okinawa có khuynh hướng đi theo một con đường biệt lập, và hầu hết các chi lưu chính đều tập trung ở thành phố Shiru, sở trường của họ là các đ̣n cương. Vơ sư Miyagi chủ trương đ̣n nhu cũng quan trọng như đ̣n cương. Do đó, chi phái Karate của ông ở Naha được mệnh danh là Karate Goju, tức là môn Không thủ đạo cương nhu (go: cương, ju: nhu). Nhận lời mời của Yamaguchi, vơ sư Miyagi rời Okinawa sang Nhật. Nhờ gặp trực tiếp vơ sư Miyagi, Yamaguchi hiểu rơ được tôn chí của môn phái Karate Goju. Phái này đặt nền tảng trên quan niệm triết học Đông phương, theo đó, mọi sự nếu cứng quá, hoặc mềm quá đều không tốt. Quan trọng là hai yếu tố cứng, mềm phải bổ sung cho nhau. Việc tổng hợp hai yếu tố cương,nhu trong vơ thuật đă mang lại cho môn phái Karate Goju những đ̣n đánh uyển chuyển, nhịp nhàng và bay bướm. Nhưng nếu ai đó e rằng hoa mỹ quá sẽ không kiến hiệu th́ người đó chỉ cần nh́n hai môn sinh Karate Goju tự đo đối luyện sẽ “tỉnh ra” ngay. Người ấy sẽ thấy Karate Goju có những đ̣n nhanh như chớp. Cuộc đấu giữa họ ít có thời gian chết, ít có những cảnh đứng yên chờ đối thủ sơ hở. Họ đều chủ động tấn công, tung ra những đ̣n “cương mănh” mà thanh thoát. Vơ sư Miyagi không chỉ “thuyết” suông mà đích thân ông c̣n biểu diễn các bài quyền vừa phức tạp, vừa lạ lùng. Buổi sơ kiến đă chinh phục hoàn toàn Yamaguchi, và cuộc đời ông đă qua một ngă rẽ quyết định.
 
Yamaguchi dốc toàn tâm lực tập luyện môn Karate Goju. Ngày vơ sư Miyagi rời Nhật Bản về Okinawa , ông hoàn toàn hănh diện về người môn đệ của ḿnh. Ông thăng đẳng cấp cao nhất của môn phái cho Yamaguchi, và uỷ thác cho người môn đệ sứ mang cao cả là lănh đạo chi phái vơ thuật này tại nước Nhật.
 
    Chia tay thầy xong,  Yamaguchi bắt tay ngay vào việc truyền bá môn vơ Karate Goju trên toàn nước Nhật. Trước tiên, ông lập hội Karate Goju ở trường đại học Ritsumeikan, rồi mở vơ đường Karate đầu tiên tại miền Tây nước Nhật vào năm 1930. Sức làm việc không mệt mỏi của ông đă giúp môn phái thu hút được nhiều môn sinh và bắt đầu lan tràn khắp xứ. Ông nhận thấy môn Karate gốc Okinawa nói chung và môn Karate Goju của vơ sư Miyagi nói riêng, với nguồn gốc vơ cổ truyền Trung Quốc, vẫn c̣n bị g̣ bó quá nhiều và tĩnh quá. Ông thực thi việc mở rộng các động tác để vơ sinh có thể ra đ̣n nhanh và tự do, thoải mái hơn. Những bước cải thiện này đă đưa môn Karate Goju tiến được một bước dài chỉ qua một thời gian vài năm.
 
     Cuộc Đệ nhị Thế chiến bùng nổ đă cắt ngang tất cả. Như mọi công dân khác, Yamaguchi tuân lệnh chính phủ lên đường sang công tác tại Măn Châu vào năm 1939.  
 
    Lúc đó nhằm giai đoạn bùng nổ cuộc Đệ nhị Thế chiến. Tại một nhà tù ở Măn Châu, có một tù nhân ngoài 30 tuổi, thân h́nh thấp lùn. Ông  ta không ngồi bất động, buồn thảm như các tù nhân khác, cũng không thích giao thiệp với ai. Ông chuyên chú duy nhất vào việc tập luyện Karate mỗi ngày. Tập xong, ông ngồi thiền, gần như đắm ḿnh trong trạng thái xuất thần. Bọn cai tù bắt đầu chú ư đến ông. Dù ông rất gương mẫu trong việc chấp hành nội quy, bọn cai ngục vẫn cảm thấy “kỵ” ông. Họ nhắc nhở nhau coi chừng ông, thậm chí có kẻ c̣n gọi ông là “tên phù thuỷ”. Sau đó ít lâu, bọn chức sắt trại giam đă khám phá ra nguồn gốc của ông. Chúng biết ông là người của sở cảnh sát Tokyo phái qua Măn Châu thi hành một công tác đặc biệt. Tại sở cảnh sát Tokyo , ông giữ một chức vụ hết sức kỳ lạ là “phát hiện lời nói dối”. Họ c̣n biết thêm ông là một vơ sư Karate. Công việc ở Sở cảnh sát của ông là dự nghe những cuộc hỏi cung các kẻ bị t́nh nghi. Trong lúc các người này trả lời, ông quan sát mọi biểu hiện của họ qua lời nói, giọng nói, cử chỉ, nét mặt, sau đó cân nhắc để nhận định kẻ đó thành thật hay gian dối. Trong nhiều năm công tác, ông chưa bao giờ phạm sai lầm, nên ư kiến của ông rất được coi trọng. Vào lúc Đệ nhị thế chiến bùng nổ, chính phủ cử ông sang Măn Châu để thi hành một sứ mang đặc biệt, nhưng vừa đặt chân xuống đất Măn là ông bị bắt ngay. Biết rơ lư lịch của ông rồi, đám cai ngục thôi gọi ông là “tên phù thuỷ” mà gọi bằng tên thật: Gogen Yamaguchi.
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
akdo47
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 608
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #22 - 03.09.2009 at 00:44:36
 
Sao bài trên lại gọi những người coi tù là bọn cai ngục. Hay tại v́ người Mèo là nhân vật chính nêu những người thuộc phía bên kia đều là kẻ xấu (?)
Back to top
 
 
View Profile   IP Logged
bubishi
Đai Đỏ
****


I Love YaBB 2!

Posts: 165
Re: Vài Nét Về Tổ Sư Gogen Yamaguchi
Reply #23 - 03.09.2009 at 09:13:02
 
Quote from Badmonk on 02.09.2009 at 17:36:19:
Tổ sư Gogen Yamaguchi

Dáng người thấp lùn, nặng 70 kư nhưng chỉ cao có 1,53 mét, ông không ngừng gây kinh ngạc cho những kẻ diện kiến- nhất là người phương Tây- về năng lực phi thường và vơ công ngoại hạng của ḿnh. Sinh hoạt đời thường của ông đă đủ biểu thị sức chịu đựng vô biên của một cơ thể sắt thép: luôn thực hiện đầy đủ bổn phận của một tu sĩ Thần học trong sứ mạng truyền bá phép quán tưởng, đồng thời ông tiếp tục lănh đạo rất thành công một “đế quốc” vơ thuật có quy mô toàn cầu là tổ chức Karate. Hàng ngày ông theo dơi, đôn dốc hơn 12 ngàn vơ đường và hội quán Karate Goju cả về mặt chuyên môn lẫn kinh tài. Ở địa vị tối cao trong “đế quốc” vơ thuật của riêng ḿnh, ông vẫn sát cánh bên các môn sinh trong các buổi tập quan trọng. Tốc độ ra đ̣n của ông nhanh khó thể tưởng tượng: ông có thể thi triển thế đá bay với 3 hay 4 cú một lần vào bụng, ngực và đầu đối thủ. Tập luyện ngoài trời giữa mùa đông giá, ông vẫn chỉ mặc một bộ vơ phục mỏng, đi chân đất, hướng dẫn các môn sinh leo lên các triền núi.

 
12 ngàn vơ đường, phóng đại ???
Back to top
 
 

Peace on earth
View Profile   IP Logged
newbaby
Đai Đỏ
****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 164
Re: Vài Nét Về Tổ Sư Gogen Yamaguchi
Reply #24 - 03.09.2009 at 11:21:27
 
Quote from Badmonk on 02.09.2009 at 17:36:19:
http://i389.photobucket.com/albums/oo333/badmonks/Yamaguchi.jpg
Tổ sư Gogen Yamaguchi

Vài Nét Về Tổ Sư Gogen Yamaguchi

Thầy Gogen Yamaguchi (C̣n gọi là Người Mèo; Cat Man) sinh năm 1907 tại Kyusyu thuộc hạt Miyataki Ken, thuộc ḍng dơi samurai chính tông. Từ nhỏ, ông đă làm quen và luyên tập nhiều môn vơ, đặc biệt là Nhu đạo. Năm 20 tuổi, ông theo gia đ́nh về sống ở Kyoto và tại đây, ông bắt đầu làm quen với môn vơ Karate Goju của vơ sư Chojun Miyagi, người gốc Okinawa . Ông đă đạt tới tŕnh độ đệ ngũ đẳng Nhu đạo. Về văn hoá, ông theo hoc ngành luật và ngành y. Ông đă đậu tiến sĩ y khoa ngành cốt học, và thạc sĩ triết học Đông Phương. Ông c̣n say mê đạo học và là một tu sĩ Thần Đạo nổi tiếng. Ông luôn truyền bá phép quán tưởng, để tóc dài và ăn chay trường.

Dáng người thấp lùn, nặng 70 kư nhưng chỉ cao có 1,53 mét, ông không ngừng gây kinh ngạc cho những kẻ diện kiến- nhất là người phương Tây- về năng lực phi thường và vơ công ngoại hạng của ḿnh. Sinh hoạt đời thường của ông đă đủ biểu thị sức chịu đựng vô biên của một cơ thể sắt thép: luôn thực hiện đầy đủ bổn phận của một tu sĩ Thần học trong sứ mạng truyền bá phép quán tưởng, đồng thời ông tiếp tục lănh đạo rất thành công một “đế quốc” vơ thuật có quy mô toàn cầu là tổ chức Karate. Hàng ngày ông theo dơi, đôn dốc hơn 12 ngàn vơ đường và hội quán Karate Goju cả về mặt chuyên môn lẫn kinh tài. Ở địa vị tối cao trong “đế quốc” vơ thuật của riêng ḿnh, ông vẫn sát cánh bên các môn sinh trong các buổi tập quan trọng. Tốc độ ra đ̣n của ông nhanh khó thể tưởng tượng: ông có thể thi triển thế đá bay với 3 hay 4 cú một lần vào bụng, ngực và đầu đối thủ. Tập luyện ngoài trời giữa mùa đông giá, ông vẫn chỉ mặc một bộ vơ phục mỏng, đi chân đất, hướng dẫn các môn sinh leo lên các triền núi.

CUỘC TAO NGỘ VỚI MÔN PHÁI KARATE GOJU RYU

   Yamaguchi nghe nói đến môn phái Karate Goju và người lănh đạo nó, vơ sư Chojun Miyagi lần đầu tiên khi ông đang theo học tai học đường Ritsumeikan. Hồi đó, Miyagi đang ở tại thành phố Naha , trên đảo Okinawa có khuynh hướng đi theo một con đường biệt lập, và hầu hết các chi lưu chính đều tập trung ở thành phố Shiru, sở trường của họ là các đ̣n cương. Vơ sư Miyagi chủ trương đ̣n nhu cũng quan trọng như đ̣n cương. Do đó, chi phái Karate của ông ở Naha được mệnh danh là Karate Goju, tức là môn Không thủ đạo cương nhu (go: cương, ju: nhu). Nhận lời mời của Yamaguchi, vơ sư Miyagi rời Okinawa sang Nhật. Nhờ gặp trực tiếp vơ sư Miyagi, Yamaguchi hiểu rơ được tôn chí của môn phái Karate Goju. Phái này đặt nền tảng trên quan niệm triết học Đông phương, theo đó, mọi sự nếu cứng quá, hoặc mềm quá đều không tốt. Quan trọng là hai yếu tố cứng, mềm phải bổ sung cho nhau. Việc tổng hợp hai yếu tố cương,nhu trong vơ thuật đă mang lại cho môn phái Karate Goju những đ̣n đánh uyển chuyển, nhịp nhàng và bay bướm. Nhưng nếu ai đó e rằng hoa mỹ quá sẽ không kiến hiệu th́ người đó chỉ cần nh́n hai môn sinh Karate Goju tự đo đối luyện sẽ “tỉnh ra” ngay. Người ấy sẽ thấy Karate Goju có những đ̣n nhanh như chớp. Cuộc đấu giữa họ ít có thời gian chết, ít có những cảnh đứng yên chờ đối thủ sơ hở. Họ đều chủ động tấn công, tung ra những đ̣n “cương mănh” mà thanh thoát. Vơ sư Miyagi không chỉ “thuyết” suông mà đích thân ông c̣n biểu diễn các bài quyền vừa phức tạp, vừa lạ lùng. Buổi sơ kiến đă chinh phục hoàn toàn Yamaguchi, và cuộc đời ông đă qua một ngă rẽ quyết định.

Yamaguchi dốc toàn tâm lực tập luyện môn Karate Goju. Ngày vơ sư Miyagi rời Nhật Bản về Okinawa , ông hoàn toàn hănh diện về người môn đệ của ḿnh. Ông thăng đẳng cấp cao nhất của môn phái cho Yamaguchi, và uỷ thác cho người môn đệ sứ mang cao cả là lănh đạo chi phái vơ thuật này tại nước Nhật.

   Chia tay thầy xong,  Yamaguchi bắt tay ngay vào việc truyền bá môn vơ Karate Goju trên toàn nước Nhật. Trước tiên, ông lập hội Karate Goju ở trường đại học Ritsumeikan, rồi mở vơ đường Karate đầu tiên tại miền Tây nước Nhật vào năm 1930. Sức làm việc không mệt mỏi của ông đă giúp môn phái thu hút được nhiều môn sinh và bắt đầu lan tràn khắp xứ. Ông nhận thấy môn Karate gốc Okinawa nói chung và môn Karate Goju của vơ sư Miyagi nói riêng, với nguồn gốc vơ cổ truyền Trung Quốc, vẫn c̣n bị g̣ bó quá nhiều và tĩnh quá. Ông thực thi việc mở rộng các động tác để vơ sinh có thể ra đ̣n nhanh và tự do, thoải mái hơn. Những bước cải thiện này đă đưa môn Karate Goju tiến được một bước dài chỉ qua một thời gian vài năm.

    Cuộc Đệ nhị Thế chiến bùng nổ đă cắt ngang tất cả. Như mọi công dân khác, Yamaguchi tuân lệnh chính phủ lên đường sang công tác tại Măn Châu vào năm 1939.

   Lúc đó nhằm giai đoạn bùng nổ cuộc Đệ nhị Thế chiến. Tại một nhà tù ở Măn Châu, có một tù nhân ngoài 30 tuổi, thân h́nh thấp lùn. Ông  ta không ngồi bất động, buồn thảm như các tù nhân khác, cũng không thích giao thiệp với ai. Ông chuyên chú duy nhất vào việc tập luyện Karate mỗi ngày. Tập xong, ông ngồi thiền, gần như đắm ḿnh trong trạng thái xuất thần. Bọn cai tù bắt đầu chú ư đến ông. Dù ông rất gương mẫu trong việc chấp hành nội quy, bọn cai ngục vẫn cảm thấy “kỵ” ông. Họ nhắc nhở nhau coi chừng ông, thậm chí có kẻ c̣n gọi ông là “tên phù thuỷ”. Sau đó ít lâu, bọn chức sắt trại giam đă khám phá ra nguồn gốc của ông. Chúng biết ông là người của sở cảnh sát Tokyo phái qua Măn Châu thi hành một công tác đặc biệt. Tại sở cảnh sát Tokyo , ông giữ một chức vụ hết sức kỳ lạ là “phát hiện lời nói dối”. Họ c̣n biết thêm ông là một vơ sư Karate. Công việc ở Sở cảnh sát của ông là dự nghe những cuộc hỏi cung các kẻ bị t́nh nghi. Trong lúc các người này trả lời, ông quan sát mọi biểu hiện của họ qua lời nói, giọng nói, cử chỉ, nét mặt, sau đó cân nhắc để nhận định kẻ đó thành thật hay gian dối. Trong nhiều năm công tác, ông chưa bao giờ phạm sai lầm, nên ư kiến của ông rất được coi trọng. Vào lúc Đệ nhị thế chiến bùng nổ, chính phủ cử ông sang Măn Châu để thi hành một sứ mang đặc biệt, nhưng vừa đặt chân xuống đất Măn là ông bị bắt ngay. Biết rơ lư lịch của ông rồi, đám cai ngục thôi gọi ông là “tên phù thuỷ” mà gọi bằng tên thật: Gogen Yamaguchị

 
... Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho !!! ... ??? ...
Back to top
 
 
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #25 - 03.09.2009 at 17:03:21
 


Năm 1947, Yamaguchi được phóng thích khỏi nhà tù Măn Châu và lên đường về nước. Thời gian tù đày 8 năm là dịp cho ông thu thập được nhiều nét tinh hoa của vơ học cổ truyền Trung Hoa. Trở về tổ quốc trong một nước Nhật bại trận, Yamaguchi đau đớn chứng kiến cảnh vơ thuật bị lực lượng Đồng minh chiếm đóng đặt ra ngoài ṿng pháp luật. May thay, lệnh trên lại không “đụng” đến môn vơ Karate, v́ người kí lệnh nhầm tưởng Karate là một vũ điệu thuần tuư Đông phương! Sự hiểu lầm này đă đem lại cho Yamaguchi một vận may hiếm có, nhưng đồng thời cũng bắt ông phải bắt tay ngay vào việc. Ông lập tức khai thác dịp may và lao ngay vào công tác bị bỏ dở v́ chiến tranh, để tiếp tục sứ mạng mà sư phụ Miyagi đă uỷ thác. Theo nhận định của ông, những truyền thống của dân tộc bao giờ cũng có sức mạnh lớn lao. Từ suy nghĩ này, ông quyết định đặt công tác phát triễn vơ thuật trong khuôn khổ của nổ lực phục hồi các phong thái cổ truyền, đă tạo nên h́nh ảnh hào hùng của người Nhật. Ông thể hiện nghiêm khắc các nếp sống dân tộc trong mọi tương quan, đồng thời để tóc dài theo cung cách tu sĩ Thần đạo và giới samurai. Bề ngoài có vẻ cổ quái của ông cộng với ḷng nhiệt thành đă lôi cuốn mọi người quanh ông trở về với niềm tự hào dân tộc. Phong trào đua đ̣i cách sống phương Tây mất dần sức quyến rũ, và chẳng bao lâu, chính những người ngoại quốc sống ở Nhật lại bị nếp sống Nhật chinh phục. Nhiều binh sĩ ngoại quốc trong quân đội chiếm đóng t́m đến vơ đường Goju Kai ở Tokyo xin theo học và sau đó, họ đă trở thành các sứ giả truyền bá môn Karate Goju đi khắp thế giới.
Tại Nhật, người ta thường nghe nhắc đến một biệt danh của ông là “Người Mèo” Không thủ đạo. Không ai biết rơ xuất xứ của biệt danh này mà chỉ phỏng đoán là do các quân nhân Mỹ chiếm đóng tại Nhật đặt cho ông. Những toán lính Mỹ đă nhiều lần kinh hoàng khi ông đột ngột xuất hiện ngay sau lưng họ mà họ không hề hay biết, v́ ông đi đứng nhẹ nhàng như một con mèo. Cũng có kẻ lập luận rằng biệt danh ”Người Mèo”(Cat Man) rất thích hợp để diễn tả những động tác mềm dẻo, uyển chuyển của môn phái Karate Goju mà Yamaguchi là trưởng môn. Dù xuất phát từ nguồn gốc nào đi nữa, th́ cái biệt danh đó xem ra đă chọn đúng đối tượng. Người Mèo Yamaguchi không phải chỉ được biết đến qua h́nh ảnh mái tóc dài buông xoă và đôi mắt đen rực sáng, ông c̣n là hiện thân của một sức mạnh truyền kỳ, của nghị lực và ḷng đam mê. Và chính từ hai điều này, nên chỉ với khối óc và hai bàn tay trắng, ông đă tạo nên một đế quốc vơ thuật hùng mạnh giữa thế kỷ này trong một thời gian ngắn.
Ngoài ra, một yếu tố không thể thiếu, giúp đưa ông tới thành công chính là sự kính mến của các môn sinh đối với người bạn đời của ông: bà Yamaguchi. Trong mọi nghịch cảnh, bà luôn trầm lặng, b́nh tĩnh, không hề than oán. Bà luôn khuyến khích các môn sinh của chồng khi họ có dấu hiêu nản chí. Hầu như tất cả các môn sinh v́ quư trọng bà đă t́m cách giữ vững sự sống của môn phái. Đức hạnh và ḷng thanh cao của bà đă khiến họ mến mộ bà có phần trội hơn đối với thầy của họ nữa. Thật đúng như một bậc danh nhân đă nói:”Đằng sau sự thành đạt của một vĩ nhân luôn có bóng dáng của một người phụ nữ”.
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #26 - 30.09.2009 at 13:27:53
 
Thử t́m hiểu thêm về bài quyền Sanchin .
 
Bài quyền Sanchin  vốn do thầy  Higaonna Kanryo (東恩納寛量, 1853-1915) chế ra. Nó là bài kata nhập môn của phái Uechi-ryu ,  phái Goju Ryu .
 
Ngày nay bài quyền này được mang vào chương tŕnh huấn luyện của các hệ phái Karate như : Shito Ryu
Isshin Ryu , KyokushinKai ... Mỗi môn phái có lối đánh quyền khác nhau chút đĩnh nhưng nói tựu chung bài quyền này vẫn chú trọng đến cách thổ nạp vận hành của hơi thở phát ra thành tiếng cùng với sự nhịp nhàng của sự vận hành của quyền ... Như chúng ta  đă được biết các bài Kata xuất phát từ các bài quyền của phía miền nam Trung Quốc , trong bài viết  này Badmonk xin miễn bàn thêm ... Ví dụ môn  Bạch Hạc Quyền của vơ thuật  ở tỉnh Phúc Kiến phía Nam Trung Quốc có bài quyền (Sáo lộ (套路)) nhập môn mà động tác khá giống Sanchin với lối đánh mỡ tay ...
 
Tại Sao lại gọi bài Sanchin Kata là Tam Chiến ? Có phải bài quyền này dùng để một người chống ba người hay không ? hay ẩn ư của ngôn từ dấu sau ǵ số 3 này ... Có thể là bài quyền dùng để luyện Tâm- Khí -Thần  chăng ? hay bài quyền này nhắc nhở chúng ta tập trung vào bí mật của các Karate ka muốn đạt tới cănh giới Sutemi "Sute" = Từ bỏ; "Mi" = thân thể)  Hay bài Kata này muốn đẫn dắt chúng ta đi từ các cấp bật như :
 
Shojin: đây là thời gian thực hành công phu cùng với ư chí và ư thức. Rất quan trọng đối với những người mới nhập môn.
Shiho :đó là sự tập trung vô thức.  Tập đến giai đoạn này th́ đă được hướng dẫn dưới sự kiểm tra của các thầy ...
Kodo Sawaki :Giai đoạn thứ ba đạt được khi tinh thần hoàn toàn siêu thoát. Ta có thể tự giải thoát khỏi chính ḿnh để đạt tới giác ngộ của chính ḿnh .... Tongue embarrassedBây giờ xin lạm bàn về kỷ thuật của bài Sanchin :
 
Bài Sanchin xuyên suốt từ lúc khởi quyền đến khi kết thúc đều sử dụng thế tấn Sanchin Dachi . Lối đứng tấn này tương tự như tấn  "Nhị Tự kiềm Dương Mă" trong Vĩnh Xuân Quyền (Theo tiếng Hán, Nhị tự có nghĩa là "chữ nhị", mă có nghĩa là "bộ tấn", "thế tấn".  
Chữ kiềm dương trong câu này có nhiều người dịch là "kẹp dê", ư chỉ hai đầu gối chụm lại của thế tấn này có thể dùng để kẹp một con dê vào giữa.  
Kiềm dương ở đây có nghĩa là kiềm giữ dương khí , dùng trong quá tŕnh luyện nội lực. Thế tấn Nhị tự kiềm dương mă dùng để đứng luyện gân cốt và nội lực. , giúp cho chân khí sau khi tụ ở Đan điền có thể được lưu truyền dọc theo Nhâm - Đốc nhị mạch và kỳ kinh bát mạch một cách dễ dàng theo hơi thở và vận động của người tập bài quyền Tiểu Niệm Đầu.)
 
Thế tấn Sanchin mỗi lần bước lên thường rà chân sát đất theo h́nh bán nguyệt từ ngoài vào trong Có thuyết cho rằng thế tấn này h́nh thành từ kinh nghiệm đứng trên thuyền của người Ryukyu hay lối rà chân để gạt các bụi cây cỏ sang một bên khi chiến đấu hay tập luyện nơi những vùng đất mấp mô đầy cỏ và đá ... Luyện Sanchin cho phép nâng cao khả năng pḥng thủ, vững chăi, tập trung, nhanh nhạy....
 
Khi ta lập tấn Sanchin th́ : Khi xoay sang phải
 
 
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #27 - 01.10.2009 at 14:15:59
 
Lạm bạn thêm về cách luyện tấn của bài Sanchin .
 
Thông thường do lối di chuyển tấn Sanchin Dachi rà và sát mặt đất rồi bấu các ngón chân để lấy hấp lực từ mặt đất (đồng lúc với hơi thở khi hít vào , hơi thở vừa ngay chính điểm dứt của bước tấn  ) toàn bộ thắc cơ lưng chạy dài xuống bắp chân trước và sau cùng phải vận siết cùng một nhịp ... tạm gọi là tụ lực và phát lực .
 
Cách luyện sự tập trung toàn bộ cơ vai , toàn bộ cơ lưng và cơ bắp chân trở thành một luồn chảy như điện thông xuốt ... ta có cách  tập theo lối cỗ truyền như sau :  
 
_ Kiếm  hai cái b́nh dùng cắm hoa loại dài khoăng từ mũi tay đến cùi chỏ ta . Dùng ngũ trăo bấu vào miệng b́nh rồi gian ngang hai cánh tay thẳng ra . Bắt đầu mỗi bước tấn Sanchin Dachi khi hít hơi vào từ từ th́ tay ta bấu chặt từ từ vào miệng b́nh ; cơ lưng ta theo đó từ từ siết cùng các cơ bắp chân đồng lúc ... Khi hít vào rồi th́ đến  giai đoạn thở ra : Th́ ta từ từ thă lơng các ngón tay và các ngón chân ... Đến kỳ cuối dứt của hơi thở th́ toàn bộ cơ trên cơ thể phải trỡ về trạng thái thư giăn kể cả cơ gân ở cần cổ ... cho mặc dù hai tay vẫn cầm cái b́nh giang hàng  ngang . Các động tác này tập đến khi thuần thục th́ :
 
_ đổ thêm nước hợac cát thêm vào b́nh tăng độ nặng rồi tập tiếp ....
 
_ Mỗi bước tấn Sanchin Dachi khi ta " Hít Vào " th́ theo luật tự nhiên hậu môn nhiếu lại , phần bụng dưới ( Dưới rốn ) nâng lên hơi đưa phía trước .... Các bắp thịt chân trong ngoài tự nhiên xớan lại . Khi hơi thở đến điểm cuối th́ hậu môn và bụng dưới cùng các bắp cơ phải lập tức  hoạt động nhịp nhàng đồng nhất . Phương pháp hít vào thở ra cùng với quyền này được gọi là Ebuki ... Ebuki ( Ibuki ) này là cách thở cho lớp nhập môn ... Sau khi đai đen trở lên th́ được luyện thêm 2 cách  thở cao đẵng hơn là Awasu và Misógi ( sẻ bàn đến sau )
 
_ Mỗi lần tập ban đầu do vai chưa quen lối tây  gian ngan và cầm bấu cái  b́nh ta nên tập thêm Mawasi- Uke để giảm bớt độ mơi của vai ( Lối ṿng âm dương tạo thành một ṿng tṛn che toàn thân theo Kyokushin , c̣n các môn khác th́ lối này làm một ṿng tṛn nhỏ che trước ngực mà thôi )
 
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #28 - 04.10.2009 at 03:18:13
 
T́m hiểu phương pháp luyện thở Ibuki trong bài quyền Sanchin ...
 
Ibuki là phương pháp thở hô hấp phát ra thành tiếng trong bài quyền Sanchin , đây là phương pháp hít thở nhịp nhàng cùng với các chuổi động tác trong lúc đi quyền .: đây là phương pháp thở căn bản đồng thời Ibuki là phương pháp luyện nội công của cấp nhập môn đến cấp Sodan ...
 
Tuy nhiên tuỳ theo lối sống thực tế , hay căn cơ của từng người , do thầy chỉ dẫn .... Th́ cảm nhận của mỗi người đều có sự cảm nhận khác nhau sau mỗi buổi tập . Badmonk viết bài này chỉ theo cảm nhận riêng của chính bản thân đă từng trăi nghiệm để chia sẻ cùng các bạn chứ không khuyến khích bất cứ một ai phải tập luyện theo phương pháp này ... Thông thường các phương pháp hô hấp luyện khí sau khi mỗi buổi tập bạn cảm nhận thấy : Cơ thể đạt sự thể lực dồi dào , tinh thần phấn chấn  , sảng khoái cao độ . Sự hưng phấn vui vẻ đem lại sự hoạt bát và trí năo được tập trung hơn khi  làm việc thường nhật  ... Cơ thể bạn sẻ cản nhận thấy
luôn căng cứng nhưng rất dẽo dai ... C̣n ai có những cảm giác ngược lại như trên th́ hảy xem xét lại phương pháp tập luyện của ḿnh .... Ngoài ra chúng ta phải loại bỏ lối suy nghĩ " Tự Kị ÁmThị "  hay chứng hoang tưởng " Tự Sướng " với bản thân ḿnh ...
Trỡ lại cách thở Ibuki là phương pháp hô hấp làm tăng trưỡng hệ tuần hoàn máu vào các cơ bắp thịt nhiều hơn ... Như chúng ta được biết cơ bắp được tạo nên từ poteỉn nên bạn có thể ăn poteỉn để làm nở nang cơ bắp nhưng quá nhiều proteỉn th́ không tốt ( v́ cơ thể sẽ tự chuyển hoá proteỉn làm năng lượng, trong khi bạn lại muốn cơ thể đốt mỡ và đường làm năng lượng thôi! ) Cách chúng ta tập luyện hàng ngày là nhằm tập trung giúp tăng và đốt cháy calories để tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động ... Sợi cơ có nhiều khả năng khác nhau :
 
Các cơ bắp trong cơ thể con người  gồm hai loại sợi cơ: loại sợi cơ co rút chậm, sử dụng chủ yếu trong các hoạt động mang tính chịu đựng; loại sợi cơ co rút nhanh, chỉ hoạt động khi việc đó phải dùng hơn 25% năng lực tối đa của bạn.  
 
Hầu hết chúng ta đều có lượng sợi cơ co rút chậm và nhanh bằng nhau, ngoại trừ chúng ta tập luyện ( Ví dụ như vơ thuật ) th́ chúng ta sẻ  "đánh thức " các sợi cơ hoạt động bấy lâu nay vô t́nh " Ngũ quên " Các sợi cơ  chuyên hoạt động nhanh có thể tăng nhanh lên ... Quan trọng là bạn có chú ư đến nó không ? và chú ư là bằng cách nào ?
 
 
 
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #29 - 08.10.2009 at 14:50:51
 
Bắt đầu bài quyền đứng nghiêm , mắt nhắm Mokuso .
Khởi quyền : Chân phải tiến lên theo tấn Sanchin Dachi , đồng thời tay gạt Chudan Uke ( Tay phải nằm ngoài ) Lúc này ta hít thật nhanh và tưởng tượng ( quán tưởng )như nuốt hơi xuống bụng dưới ( Đan Điền ) như bàn ở trên ....
 
Lúc này ta đứng yên : Một người khác đến  ( Ví dụ như thầy hợac HLV ) đến đứng về bên phía phải ta dùng tay xô ngang vai phải ta ; nếu cơ thể ta vẫn đứng yên hay chỉ lắc nhẹ vai nghĩa là ta đứng đúng và nén khi xuống đan điền đủ ... động tác của người xô  ta được lập lại về phía bên trái và phía đằng trước của ta .... Xong , người giúp ta  tiếp tục vỗ  bằng hai tay thật mạnh vào hai vai ta , hai bắp tay , hợac bắp chân ta ... Nếu lúc này cơ thể của ta nhúc nhích hay  rung nhẹ nghĩa là ta đă vận khí sai . Chú ư : Lúc này ta đứng toàn thân vận cứng : Bắp tay , các cơ bắp dọc  Xương sống và bắp chân vận thành một khối nhưng vẫn thă lơng và hít thở b́nh thường   ( Thở 2 kỳ ) . Các sợi cơ trong bắp thịt ta được cấu tạo là : đan và xoán lại với nhau ... Khi ta vận như thế tấn đứng trên th́ luật tự nhiên các sợi cơ bị vặn ngược lại nên các sợi cơ  nỡ giăn lớn ra nên máu lưu thông đem Oxygen đẩy hồng huyết cầu vào sâu hơn ( Ngoại hô hấp ) Khi ta vừa hít vào th́ các mạch tự nhiên đóng và mỡ ra ; và thở  ra th́ các kinh mạch lập tức mỡ ra và đóng lại v́ Oxygen luân chảy trong máu như ḍng điện theo sự vận hành của sự tự nhiên của cơ thể . Các phương pháp hít vào thở ra trong bài quyền Sanchin đi theo thứ tự cùng động tác hành quyền : Hít vào ( Nhanh - Nạp khí ) Nuốt xuống ( Từ từ - Nén khí ) thở ra từ  miệng ( chậm chậm thở ra từ bụng đến khi dứt hết hơi thở  - Xă khí ) sau đó thở bằng cách bấu chân xuống mặt đất , hậu môn đóng và bóp thắt bụng duới  (đan điền )  thở hắt hết  hơi c̣n đọng lại ra ( Thở Bung hay thở Nỗ )Mọi động tác thở này phải nhịp nhàng luân chuyển không dứt đoạn được ta kiểm tra bằng sự chú ư của ta ( Ư thức ) Mọi môn phái đều có mỗi lối thở theo " Tướng H́nh " đi , đứng , nằm ngồi .... Tuỳ theo sự vận động của từng môn phái nên các lối thở thấy khác nhau về h́nh tướng bên ngoài .... Nhưng nói tự chung sự vận hành của hơi thở  ( vận nội công  Tongue ) đều giống nhau về một điểm như đă  phân tách lối thở 2 kỳ ( qua 4 giai đoạn )của bài quyền Sanchin .
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #30 - 09.10.2009 at 11:50:31
 
1. Chuyện đầu là giữa Nguyẽn Trăi và Lê Sát . Ngược lại với sự tôn vinh của chúng ta với Nguyễn Trăi, ông có một vị trí khá lớn trong bộ máy hành chính thời tiền Lê . Cũng như bất cứ một nhà Nho chính thống nào, Ông luôn luôn khuyến khích lễ nghĩa, đức trị. "Bệ Hạ gia ân đức th́ nhà nhà không có tiếng ai oán, đấy là tiếng nhạc hay nhất vậy". Đại khái ông đă nói như vậy, khi vua Lê Thái Tổ giao cho ông nhiệm vụ soạn lễ nhạc cho triều đ́nh. Lê Sát ngược lại là kẻ vơ biền, nhưng ông này giữ chức phụ chính đứng đầu triều đ́nh một thời gian khá dà i . Quyền lực khuynh nước , đăo thành ... Bị thất sủng và giết chết vào đời Lê Thánh Tông th́ phải. ? Trong Đại Việt Sử kư , những trang viết đến ông Lê Sát  nhiều hơn  viết về Nguyễn Trăi. Thế cho nên mới có chuyện : Một lần quan quân bắt được 3 tên kẻ cướp, Lê Sát đă mỉa Nguyễn Trăi mà nói rằng: " Phiền ngài đem lễ nghĩa mà dậy chúng ". Nguyễn Trăi liền đă trả lời : " Chúng hung bạo như vậy luật triều đ́nh c̣n không trị được , làm sao tôi làm được ".  
 
2. Chuyện thứ hai  là : Giữa Ngô Th́ Nhậm và Ngô văn Sở. Ngô th́ Nhậm là một nhà nho nổi tiếng đă giúp vua Quang Trung giao hảo lại với Nhà Thanh , sau khi Tôn Sĩ Nghị bị đánh chạy mất dép về TQ  . Ông cũng là người bầy kế cho quân Tây Sơn lui về giữ núi Tam Điệp (nằm giữ Ninh B́nh, Thanh Hóa ), để  trống ngỏ cửa  Thăng Long cho quân Thanh tiến vào . Lúc lui binh, Ngô Văn Sở, là  một tướng nổi tiếng nhà Tây Sơn mới diễu ông rằng : " Phiền ngài làm một bàii thơ đuổi giặc đi , nếu không th́ lại phải đến tay kiếm tay đao của tôi ".  
 
Từ đó mới thấy rằng, văn không thể thiếu vơ. Văn là ư tưởng , là chính sách. Nhưng đến khi thực hiện th́ văn không đủ dũng lực , mà phải có vơ . Vơ tạo điều kiện cho văn , đưa nó vào hiện thực.
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #31 - 28.10.2009 at 03:57:52
 
Chẹp ! Đă bàn th́ bàn cho tới .... trời sáng !
 
Trong bài viết này Badmonk muốn nói đến những phương pháp viết sử khác nhau. Bởi lịch sử chỉ có một, nhưng cách nh́n nhận chủ quan của người viết khác nhau sẽ dẫn đến những ... Kết luận khác nhau .
 
Khi nói về sử liệu tức là nói về những sự kiện . Mà đă là  những sự kiện chỉ xảy ra  duy nhất , t́m cái sự kiện đó , tại thời điểm đó, định lượng nó đôi lúc cũng cần ḷng dũng cảm của sử gia . Bởi  v́ lịch sử là một chuổi sự kiện quá khứ nhiều lúc đáng buồn hơn là đáng tự hào . Đáng buồn là nhiều khi bị ... Chính trị hoá, nên người ta sẵn sàng bóp méo sự kiện , huặc nguỵ tạo nó, nhưng đó là một vấn đề ḥan ṭan khác . Cái mà Badmonk muốn nói là sự  nhận thức  về lịch sử. Nếu lịch sử chỉ là sự kiện th́ nó vô hồn ... Người ta viết sử là cho nó xảy ra  hiện tại trong một chế độ mà nhà viết sử đang sống và phục vụ cho chính quyền đó  . Nó là sự tạo dựng lại quá khứ theo con mắt thời đại của nhà làm sử ( hay viết sử )... V́ vậy trong sử c̣n có nhận thức chủ quan của tác giả và thời đại tác giả đang sống . Trong Đại việt sử kư ṭan thư, ng̣ai phần sự kiện c̣n có các lời b́nh của Lê văn Hưu, của Ngô sĩ Liên, v..v.. Đấy là một ví dụ về nhận thức lịch sử .
 
Trong Đông Chu ( hồi 51 ) th́ có chép truyện Triệu Thuẫn thực ra là một tể tướng trung thần ( con Triệu Thôi vốn là công thần khai quốc thời Tấn Văn Công , đưa nước Tấn lên ngôi bá chủ... Vơ lâm ) nhưng phải thờ đời con là Tấn Linh Công, một hôn quân vô đạo , hiếu sắc vàcos tính  hiếu sát một cách quái đản như Kiệt , Trụ hay Lê Ngoạ Triều ( cái này c̣n phải xem lại )
 
Triệu Thuẫn can măi chẳng được , đă thế c̣n bị gian thần Đồ Ngạn Giả mưu sát 2 lần phải bỏ chạy khỏi kinh đô.
 
Dọc đường gặp người cháu là Triệu Xuyên khuyên nên về t́m cách cứu nước nhà ...
Quả nhiên Triệu Xuyên lập mưu giết đưọc Tấn Linh Công ở tiệc vườn Đào ....
 
Triều Đ́nh Lập vua mới là Tấn Thành Công lên ngôi.( Ở diễn đàn KTVT cũng ta có anh Tấn Thành Công )
 
Triệu Thuẫn vẫn được trọng dụng làm tể tướng , không những thế cả nhà họ Triệu c̣n được vào nắm hết các chức vụ lớn trong triều ( sau này trở thành nước Triệu ).
Riêng Triệu Thuẫn vẫn lấn bấn v́ chữ Trung.  
Một hôm bảo quan thái sử l� Đổng Hồ đem sách sử ra xem chép sự việc ấy như thế nào ?
 
Sách chép : " Mùa thu, tháng bảy, năm Ất Sửu , Triệu Thuẫn giết vua Di Cao ở vườn đào "
Triệu Thuẫn giật ḿnh nói :
- Quan Thái Sử nhầm rồi ! Lúc đó ta đă chạy ra Hà Đông cách Kinh Thành hơn hai trăm dặm , ta đâu có biết chuyện giết vua ?
Đổng Hồ nói :
- Ngài làm quan tể tướng, trốn đi chưa khỏi địa giới nước nhà mà có việc giết vua. Khi về ngài lại không trị tội đứa phản loạn th́ sao lại bảo ḿnh không phải là kẻ chủ mưu ?
- Bây giờ có thể chữa lại được không ?
Đổng Hồ nói :
- Đă là sử bao giờ cũng phải mang tính trung thực, đâu phải uốn nắn theo ư muốn của con người ? Đầu tôi có thể rơi , xong đoạn sử không thể sửa đổi !  
Triệu Thuẫn buồn rầu nói :
- Thế mới biết quyền chép sử là một quyền tuyệt đối ! Tiếc thay ! ta không làm tṛn bổn phận để phải mang tiếng ngàn đời ! ....
 
C̣n chuyện của thực ra trước kia Badmonkcũng có đọc đâu đó , không nhớ tên sách , cũng có nói về chuyện giết vua . Rồi vua bị chép chuyện lại đi giết kẻ chép chuyện , kẻ sau lên vẫn chép đúng như thế lại thêm vào " v́ chuyện này mà vua giết quan thái sử " . Vua bảo xoá không được lại chém nữa , lần thứ 3 quan thái sử mới vẫn chép y như trước và c̣n thêm  " V́ chuyện này vua giết thêm 2 quan thái sử nữa " .
Lần này vua sợ  nên không dám giết nữa ....
 
Các truyện này tuy có vẻ hơi cường điệu , nhưng nó cũng phản ánh một phần sự nghiêm túc, khắt khe của việc chép sử thời xưa .  
 
Cũng có lẽ v́ chuyện này , đôi khi có lệ Quốc Sử Quán là nơi nghiêm cấm người ng̣ai vào đọc lúc đang biên chép cho  dù đó  là vua chăng nữa .
 
Tuy nhiên trong lịch sử vẫn xảy ra những chuyện vua can thiệp vào công  việc của ngừoi chép sử . Chẳng hạn có nhiều tài liệu cho thấy chính Lê Thánh Tông đă từng " chỉ thị " khá nhiều cho Ngô Sĩ Liên khi làm bộ " Đại Việt Sử Kư Ṭan Thư ", nên tuy có chép tương đối trung thực về Lê Lợi kể cả những tính xấu , nhưng đă bỏ không chép chuyện Lê Lai liều ḿnh cứu chúa mà lại chép chuyện " giết quan tư mă Lê Lai , tịch thu gia sản v́ Lai cậy ḿnh có công , ăn nói khinh mạn " .  
Đă diễn ra nhiều tranh luận về chuyện này, ( Badmonk có đăng bài " Ai giết Lê Lai ? " Có người cho đó là Lê Lai khác , nhưng khả năng chính là Lê Lai cứu chúa đă bị Lê Lợi giết chứ không phải ai khác , nhưng Lê Thánh Tông bảo phải " biên tập " đi chuyện công lao của Lê Lai để giảm nhẹ tội cho Lê Lợi chăng ?  
 
Khác nước và lại mơi tay quá , không biết bác nào trong diễn đàn đang uống bia không vậy ?
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #32 - 12.12.2009 at 19:16:29
 
Đỗ Năng Tế quê ở Khoái Châu (tỉnh Hưng Yên). Mẹ là người họ Đặng, quê làng Mỹ Giang, xă Tam Hiệp (Phúc Thọ). Khi đến tuổi đi học, Đỗ Năng Tế học với người thầy họ Tạ, sau được thầy gả cho người con gái là Tạ Cẩn Nương.  
Tạ Cẩn Nương tuy phận quần thoa, nhưng văn vơ song toàn. Tiếng tăm hai vợ chồng này có lúc lừng lẫy khắp vùng Mê Linh, Chu Diên. Lạc tướng Mê Linh lúc bấy giờ là Trưng Định (tức cha đẻ của chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị) bèn cho mời hai vợ chồng về giúp việc. Khi Trưng Định mất, vợ ông là bà Man Thiện giao cho vợ chồng Đỗ Năng Tế và Tạ Cẩn Nương dạy dỗ trông nom các con gái. Hai người đă hết ḷng dạy văn, luyện vơ cho chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị.
 
Được sự động viên khuyến khích của bà Man Thiện, vợ chồng Đỗ Năng Tế và Tạ Cẩn Nương đă hết sức giúp đỡ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Đỗ Năng Tế đă đi khắp các vùng ven sông Đáy, dọc núi Tam Đảo, Ba V́, vận động các tù trưởng, quan lang mang quân hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Hàng vạn người, trong đó có rất nhiều phụ nữ đă rầm rập kéo về sông Hát (thuộc xă Hát Môn, Phúc Thọ) hội tụ quân sĩ, tế cờ khởi nghĩa. Tại lễ tế, Hai Bà Trưng bàn giao cho Đỗ Năng Tế làm Phụ quốc Tiết chế Nhập nội Trung tín tướng quân và phong cho bà Tạ Cẩn Nương làm Tham tán Trung quân Chưởng nội các phu nhân. Có lúc Đỗ Năng Tế được lệnh của Hai Bà Trưng chia quân làm nhiều đạo, cùng tiến về thành Luy Lâu (Thuận Thành, Hà Bắc) cũng là hang ổ của tên Thái thú Tô Định. Quân sĩ được chia làm hai đạo: Một đạo do Trưng Nhị chỉ huy vượt sông Hồng về phía bắc, một đạo do bà Tạ Cẩn Nương cùng một số nữ tướng khác chỉ huy. C̣n các nam quân sĩ đều dưới sự chỉ huy của Đỗ Năng Tế tiến về thành Luy Lâu. Trước sức mạnh như chẻ tre của quân Hai Bà Trưng, Thái thú Tô Định và tàn quân buộc phải bỏ chạy về Quảng Đông (Trung Quốc). Bà Trưng Trắc xưng vương và phong cho Đỗ Năng Tế làm Hộ quốc Phụ dực Đại vương và Tạ Cẩn Nương làm Hoàng tướng Nội các phu nhân tướng quân.
 
Thời gian sau, nhà Đông Hán lại sai Mă Viện đem hai vạn quân sang tái xâm lược nước ta. Trưng Vương liền cho mời tướng quân Đỗ Năng Tế cùng Tạ Cẩn Nương (lúc đó đều đă cao tuổi về nghỉ tại quê) và các tướng sĩ khác về bàn cách đối phó. Trong cuộc họp bàn đó, Đỗ Năng Tế là người có ư kiến quyết tâm đánh giặc đến cùng. Nghe theo kế sách của Đỗ Năng Tế, Trưng Vương cùng các tướng lĩnh dốc quân hùng dũng tiến về Lăng Bạc (Hồ Tây, Hà Nội) và chiến đấu vô cùng dũng cảm, nhưng do lực lượng thưa và yếu hơn, nên phải vừa đánh, vừa rút về Cấm Khê (chân núi Trán Voi thuộc huyện Quốc Oai). Riêng bà Tạ Cẩn Nương cùng những tướng lĩnh khác v́ không theo kịp Hai Bà, phải chạy rẽ về xuôi rồi ngược ḍng sông Hát, đến xă Hát Môn, nhảy xuống sông tự vẫn (tháng 5 năm 43). Lúc này, Đỗ Năng Tế đang cầm cự với quân giặc ở Cự Phong, nghe tin Hai Bà Trưng cùng Tạ Cẩn Nương bị thua trận, vẫn cùng các tướng sĩ quyết chiến. Mă Viện trực tiếp cầm quân vây đánh Cự Phong. Đỗ Năng Tế cầm đao cưỡi ngựa xông thẳng vào quân địch phá vây, chạy về khu vực làng Mỹ Giang, xă Tam Hiệp (Phúc Thọ). Nhân dân được tin, mang lương thực và thực phẩm ra giúp đỡ. Rút về đây chưa được trọn ngày, th́ nửa đêm 15-7, quân địch đă đuổi kịp, bao vây tứ phía định bắt sống Đỗ Năng Tế. Ông phải vừa đánh vừa rút lui vào Quán Cấm, v́ có cây cối um tùm che chở làm cho quân địch không thể nào phát hiện được. Nhân dân đă đùm bọc ông, hết ḷng cứu chữa, nhưng v́ tuổi già, sức yếu, vết thương quá nặng, đến ngày 17-7-43 ông đă qua đời tại đây.

 
 
 
Lịch sử quân đội Việt Nam tính từ triều vua Đinh Tiên Hoàng , tức vào khoảng cuối thế kỷ thứ 10 khi nhà nước Vạn Xuân ra đời . ( Tháng 4 năm 542, vua Lương sai các vơ tướng là Trần Hầu, Nịnh Cư, Lư Trí và Nguyễn Hán, từ 2 phía bắc nam Giao Châu cùng tiến đánh nghĩa quân Lư Bí. Tuy nhiên, cuộc phản kích này của giặc Lương cũng thất bại. Nghĩa quân thắng lớn và vẫn nắm quyền làm chủ đất nước. Từ đồng bằng Bắc bộ, Lư Bí đă kiểm soát được tới vùng Đức Châu (Hà Tĩnh) ở phía nam và vùng bán đảo Hợp Phố ở phía bắc. Trải qua nhiều thắng lợi ở cả hai chiến trường biên giới Bắc, Nam, vào tháng Giêng năm 544, Lư Bí cho dựng lên một nước mới, với quốc hiệu Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Ông cũng chính là người Việt Nam đầu tiên tự xưng ḿnh là hoàng đế . ) Tuy nhiên không phải là trước đó Việt Nam chưa hề có quân đội bởi trong 1000 năm bắc thuộc , tất nhiên không thể nào các thái thú chỉ dùng quân đội Thiên Triều hết đựơc, mà phải bổ xung bằng các đội quân địa phương, không kể là có những địa phương hoặc người có quyền thế có quân đội riêng của ḿnh...
 
Theo một vài  tài liệu cổ th́ tổ chức quân đội đầu tiên xuất hiện vào khoảng thế kỷ I trước Công Nguyên, tức là khi xứ Bắc , bấy giờ là quận Giao Chỉ , nằm dưới quyền viên Thái Thú Trung Quốc tên là Tích Quang.
Viên Thái Thú này, áp dụng một loạt chính sách mới . Ông ta mở trường dạy học cho dân bản địa biết cày bừa  , Song cải cách quan trọng bậc nhất là việc tuyển mộ thường xuyên một đội dân binh vũ trang, được huấn luyện theo cách thức của Trung Quốc .Các cách tân , nhất là việc đào tạo từ người bản xứ ra những quan chức hạ cấp cho bộ máy chính trị phong kiến , không làm vừa ḷng những thủ lĩnh địa phương . Cho nên đến năm 40 Công Nguyên , con gái lạc tướng ở Mê Linh tên Trưng Trắc , có em là Trưng Nhị làm trợ thủ đă lập nên một đội dân binh và nỗi dậy chống viên Thái Thú Tô Định- người kế Tích Quang. Đại tướng của Trung Quốc là Mă Viện liền được cử sang thống lĩnh quân đội để dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng . Hai bà bị bắt làm tù binh cùng với hàng ngàn dân binh và bị chém đầu vào năm 44 .Thủ cấp hai bà bị đưa về Lạc Dương-TQ .  
 
Thành phần và tổ chức của quân đội dân binh vũ trang được huấn luyện theo cách thức Trung Quốc như thế nào không rơ , nhưng có khá nhiều tài liệu về binh chế các quân ngũ ở thời kỳ này, phát hiện được nhờ việc khai quật những mộ táng đời Hán ở vùng Thanh Hoá (?).
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #33 - 12.12.2009 at 20:09:54
 
Vũ khí của quân đội sơ khai  
 
Vũ khí hầu hết là ŕu , lưỡi mác , dao găm và cung tên.  
Quân lính th́ mặc áo giáp da trâu (nguồn gốc Trung Quốc?). Kiểu áo giáp này gồm có hai bộ phận chính , tương ứng với hai phần của thân người, ở phía trên và phía dưới hông. Bên cạnh loaị áo giáp da kiểu Trung QUốc này c̣n có loại thứ hai bằng vỏ cây . Một chiếc áo giáp bằng vỏ cây cũng được t́m thấy ở bộ lạc người Lô Lô , dân tộc ḿên núi bắc xứ Bắc , và nhất là ở tỉnh Vân Nam . Loại áo giáp bằng kim loại đồng được dành riêng cho tướng lĩnh. Loại áo giáp này trước đời Hán chưa có , v́ trong sách Chu Lễ (quy định trang phục và tổ chức quân đội của người TQ- đời Hán) chưa thấy nói đến . Một vài bộ phận ở Đông Sơn t́m thấy chứng tỏ rằng những áo giáp này gồm nhiều bộ phận ghép lại , một tấm h́nh vuông giống h́nh ảnh trên những lá chắn ngực của các quan vơ Việt Nam hồi thế kỷ XIX và những tấm h́nh chữ nhật dài không phân định rơ được vị trí cụ thể trên áo giáp . Thắt lưng cũng làm bằng da , và gắn vào một chiếc khoá đồng có chạm trổ nhiều lỗ nhỏ . Chiếc áo giáp được bổ xung thêm một chiếc mũ cũng bằng đồng , giống chiếc mũ sắt cuả quân đội Đức một cách đáng ngạc nhiên , (chiếc mũ này không hề giống mũ của nhà Chu một chút nào).
 
Bên cạnh những áo giáp, c̣n phát hiện nhiều loại vũ khí trong các mộ táng đời Hán, niên đại thuộc về những thế kỷ đầu Công nguyên. Đẹp nhất trong số vũ khí này là một thanh kiếm, lưỡi kiếm dài 0.6m, thân rộng 0.45m , mặc dù đă han gỉ nhiều , vẫn thấy rơ một h́nh quả trám màu đen nỗi rơ trên nền xám của kim loại được đánh bóng nhẵn. Kiếm có hai lưỡi , tíêt diện h́nh quả trám, hai đầu rất nhọn. Chuôi kiếm có những nấc h́nh tṛn để đặt các ngón tay vào các nấc đó . Đốc kiếm như một chiếc đài hoa h́nh cái chén có một đai tṛn bịt quanh . Cán gươm trang sức bằng những đường diềm chạm trổ tinh vi, toàn bộ lưỡi cán chuôi và các đốc kíêm thành một khối liền , (chiếc này có lẽ do thợ Trung Quốc chế ?). Ở các mộ Bắc và Trung  thường t́m thấy lưỡi ŕu , lưỡi mác và mũi giáo,  có nhiều loại dao găm, tuy nhiên rất ít mũi tên, có vẻ như ông cha ta không thạo cung nỏ cho lắm , v́ thế bắn tên nổi tiếng giỏi là các bộ tộc mạn biên giới , thiểu số.... Tất cả các loại vũ khí này không hề giống với cách chế tác vũ khí của Trung Hoa , có lẽ do ông cha ta làm nên - với một cách thô sơ hơn chăng ?. Có khá nhiều kiểu loại ŕu đồng ( Việt, là cái búa, một loài rìu dùng làm binh khí của người Việt xựa Cái búa còn dược gọi là cái phủ, và có thể từ "búa" là từ từ "Phủ" mà rạ Có khi người ta còn gọi là "phủ việ̣t" ) , đều có chuôi tra cán gỗ hoặc cán bịt sắt . Khi nào lưỡi ŕu không cân xứng và có mũi nhọn th́ người ta tra nó vào cái cán cong , có hai trụm một đầu cắm chuôi ŕu (loại này chuyên dùng cho công dụng để ném , giống như là cái Vũ khí của quân đội sơ khai  
 
Vũ khí hầu hết là ŕu , lưỡi mác , dao găm và cung tên.  
Quân lính th́ mặc áo giáp da trâu (nguồn gốc Trung Quốc?). Kiểu áo giáp này gồm có hai bộ phận chính , tương ứng với hai phần của thân người, ở phía trên và phía dưới hông. Bên cạnh loaị áo giáp da kiểu Trung QUốc này c̣n có loại thứ hai bằng vỏ cây . Một chiếc áo giáp bằng vỏ cây cũng được t́m thấy ở bộ lạc người Lô Lô , dân tộc ḿên núi bắc xứ Bắc , và nhất là ở tỉnh Vân Nam . Loại áo giáp bằng kim loại đồng được dành riêng cho tướng lĩnh. Loại áo giáp này trước đời Hán chưa có , v́ trong sách Chu Lễ (quy định trang phục và tổ chức quân đội của người TQ- đời Hán) chưa thấy nói đến . Một vài bộ phận ở Đông Sơn t́m thấy chứng tỏ rằng những áo giáp này gồm nhiều bộ phận ghép lại , một tấm h́nh vuông giống h́nh ảnh trên những lá chắn ngực của các quan vơ Việt Nam hồi thế kỷ XIX và những tấm h́nh chữ nhật dài không phân định rơ được vị trí cụ thể trên áo giáp . Thắt lưng cũng làm bằng da , và gắn vào một chiếc khoá đồng có chạm trổ nhiều lỗ nhỏ . Chiếc áo giáp được bổ xung thêm một chiếc mũ cũng bằng đồng , giống chiếc mũ sắt cuả quân đội Đức một cách đáng ngạc nhiên , (chiếc mũ này không hề giống mũ của nhà Chu một chút nào).
 
Bên cạnh những áo giáp, c̣n phát hiện nhiều loại vũ khí trong các mộ táng đời Hán, niên đại thuộc về những thế kỷ đầu Công nguyên. Đẹp nhất trong số vũ khí này là một thanh kiếm, lưỡi kiếm dài 0.6m, thân rộng 0.45m , mặc dù đă han gỉ nhiều , vẫn thấy rơ một h́nh quả trám màu đen nỗi rơ trên nền xám của kim loại được đánh bóng nhẵn. Kiếm có hai lưỡi , tíêt diện h́nh quả trám, hai đầu rất nhọn. Chuôi kiếm có những nấc h́nh tṛn để đặt các ngón tay vào các nấc đó . Đốc kiếm như một chiếc đài hoa h́nh cái chén có một đai tṛn bịt quanh . Cán gươm trang sức bằng những đường diềm chạm trổ tinh vi, toàn bộ lưỡi cán chuôi và các đốc kíêm thành một khối liền , (chiếc này có lẽ do thợ Trung Quốc chế ?). Ở các mộ Bắc và Trung  thường t́m thấy lưỡi ŕu , lưỡi mác và mũi giáo,  có nhiều loại dao găm, tuy nhiên rất ít mũi tên, có vẻ như ông cha ta không thạo cung nỏ cho lắm , v́ thế bắn tên nổi tiếng giỏi là các bộ tộc mạn biên giới , thiểu số.... Tất cả các loại vũ khí này không hề giống với cách chế tác vũ khí của Trung Hoa , có lẽ do ông cha ta làm nên - với một cách thô sơ hơn chăng ?. Có khá nhiều kiểu loại ŕu đồng ( Việt, là cái búa, một loài rìu dùng làm binh khí của người Việt xựa Cái búa còn dược gọi là cái phủ, và có thể từ "búa" là từ từ "Phủ" mà rạ Có khi người ta còn gọi là "phủ việ̣t" ) , đều có chuôi tra cán gỗ hoặc cán bịt sắt . Khi nào lưỡi ŕu không cân xứng và có mũi nhọn th́ người ta tra nó vào cái cán cong , có hai trụm một đầu cắm chuôi ŕu (loại này chuyên dùng cho công dụng để ném , giống như là cái Boomerang của thổ dân châu Úc ?) đối với loại ŕu nhỏ cân xứng , lưỡi cong , người ta dùng một thanh gỗ đặt thẳng góc với các ŕu . Ngay cả lưỡi đao và lưỡi mác cũng có chuôi để tra cán , có chiếc lớn nhất dài 0,44m; loại vừa vừa dài 0,mddến 0,30m mũi có khi rộng và dẹt, có khi rất hẹp , có một đường sống đao nổi rơ . Dao găm dài 0,25m cũng mài vát hai bên , lưỡi và cán dao liền nhau , chỗ hăm chỉ đánh dấu bằng một đường gân nhẹ , đơn giản . Mũi tên bằng đồng, được chế tác thô sơ, và tồn tại đến ngày nay rất ít , cho thấy ông cha ta hoặc dùng mũi tên bằng xương hoặc bằng gỗ chứ mũi tên đồng không thông dụng , giống các sắc dân miền núi thiểu số bắn tên tẩm độc bằng xương động vật . Về cung nỏ , nếu dựa trên các nét khắc trên trống đồng th́ cung có kiểu đơn giản , kích thước lớn khác hoàn toàn kiểu cung kép của Trung Quốc , loại nầy chỉ cần một chiếc cần lớn bằng gỗ cao vài thước ( một thước – 0,3 m) , tuy nhiên quân đội thời này được huấn luyện theo lối Trung Quốc nên rất có thể là có dùng cả loại cung kép ( cong hai cánh) ngoài ra là nỏ hiện nay đồng bào dân tộc miền núi vẫn c̣n dùng , cũng có công dụng chiến đấu khá tốt . Cung nỏ cũng có rất nhiều loại , tuỳ theo mục tiêu xạ kich,có' loại khoẻ, loại vừa, loại yếu, loại nhỏ... Loại to dành riêng cho người tập bắn, (như một cách luyện thể lực?) loại tấn công và bảo vệ thành luỹ là loại có thể bắn nhanh , nhẹ và nhỏ, khi bắn quân lính đứng sát nhau chuyên dùng trong trường hợp khẩn cấp . Nỏ trung b́nh và nỏ lớn dùng trên chiến xa hoặc để bắn trên trận địa trống , loại này mạnh hơn nhiều . Cùng với nhiều loại cung nỏ xạ kích đa dạng trên, tên dùng cũng rất phiền hà ,nhưng chủ yếu được chia thành 4 loại chính , loại tên lượn có buộc dây, dùng để phóng hoả , loại này được gọi là  “áo đổi ngôi” , rồi đến tên sát thương , tên này  nếu trúng th́ chết ngay, hai loại này nặng hơn loại tên phóng hoả , và dùng có thể trong trường hợp địch ở cự ly gần , có khả năng xuyên phá khá cao , cuối cùng là loại tên bắn chơi hoặc dùng cho săn thú.
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #34 - 26.12.2009 at 18:29:47
 
Hai bức thư dưới đây tương truyền là của Nguyễn Trăi Nguyễn Thị Lộ được chép trong gia phả ḍng họ Nguyễn Nhữ Soạn , mà Nguyễn Nhữ Soạn lại là em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Trăi
 
THƯ NGUYỄN TRĂI GỬI TRÁCH NGUYỄN THỊ LỘ
 
Trách kẻ ḷng sơ,
Riêng ta bền chí.
Luống thở than mà rằng:
Nói làm tương ứng, vốn người quân tử bản tâm,
Chí khí tương cầu, thật kẻ trượng phu ư nguyện.
Thời vốn có sau có trước, lư: không sau không trước,
Đời vốn có xưa có nay, ḷng: không xưa không nay.
Tôi nay: Vui đạo thánh hiền,
Theo nghĩa kinh sử.
Sớm xem, chiều đọc. Vũ môn những gắng thành công,
Tối ngủ, sớm làm, trung mây hằng mong thỏa chí.
Bắt chước người xưa đường sự nghiệp,
Hoan hô kẻ trước, áng công danh.
Ấp áp đón gío xuân trong sách có bao nhiêu gái đẹp,
Phía đông ngồi nghiêm lặng, ngắm cơi ngoài đoán có người tiên.
Tác hợp bởi trời, thuyền quyên gặp khách,
Kết duyên tự chủ, quân tử ghi ơn.
 
Vậy th́:
Yêu mến chưa hài,
Than phiền sao dứt?  
Ngày vắng chim bay khoảng trống, nỗi ta những ngóng tăm hơi,
Đêm khuya trăng khuất tầng mây, nỗi nàng thấu chăng u uất?
Như tấm gương, như qủa cân, chưa soi, chưa chỉnh,  
Như mặt trời, như mặt trăng, đương chiếu, đương lên.
Lời thề khắc Nam Sơn, sừng sửng Nam Sơn c̣n đó,
Lời nguyền ghi Đông Hải, bao la Đông Hải c̣n đây.
Ḷng ta đă không sờn,
Chí này ắt chẳng đổi,
 
Thế nhưng:
T́nh đời lắt léo,
Ḷng gái không thường...
Có kẻ t́nh ngoại giết chồng, nào sợ trời xanh lồng lộng,
Có người mê chơi bỏ nghĩa, chẳng hay vầng nhật sáng choang.
Tưng bừng vườn Hán dạo chơi,
Hớn hở lầu Tần vui cuộc.
Nỗi riêng do kế đoản, nên việc được, việc mất sinh ra,
Lại v́ kẻ mưu sâu, để chuyện ta, chuyện ṃng xảy đến.
Giữa trần ai, ai biết người quân tử,
Trong đám ngọc, ai biết đá vũ phu?
Thân không chính lấy thân, khổ thay hờn duyên tủi phận,
Nghĩa chẳng c̣n là nghĩa, chỉ toan oán trời, trách người!
Việc ngày xưa đă đành,
Chuyện ngày nay đáng trách.
Một lần như thế, hai lần như thế, ta đă thấy, đă nghe,
Tam ṭng là ǵ, tứ đức là ǵ, nàng nên lo nên sửa.
Thú Hằng Nga dù ai đắm đuối,
Ḷng Vĩ sinh ta vẫn giữ ǵn.
 
Vậy nên:
Tự ḿnh, ḿnh lo
Tự ta, ta sửa.
Lo tước người, mà tước trời đến,
Thuận lẽ người để hợp lẽ trời.
Lồ lộ ngôi cao, khắc có giai nhân phối hợp,
Đường đường nghiệp lớn, khỏi lo thục nữ lương duyên.
Núi cao thường tụ mây mưa,
Nước thẳm ắt sinh rồng cá.
Vua Đường thải hàng ngh́n người đẹp, trong cung người đẹp nhường bao,
Vua Tống nuôi hàng trăm gái trinh, trên điện gái trinh biết mấy?
Lă công có cô gái qúi,
Mă tướng được ḷng Hán Hoàng.
Có lúc tự oán, tự hiềm, th́ thào dè chê miệng thế,
Để sai khỏi than khỏi tiếc, vân vi rơ khéo giọng người!
Dần dần nghiệm ra,
Tất như thế đấy.
Than ôi!  
Quân tử giao du nhạt tựa nước,
Mới tuy sơ mà sau tất thân.
Lẽ phải đương nhiên,
Đạo thường không đổị
Lời đinh ninh trọn đời phải giữ,
Nghĩa chấp trung muôn vật c̣n truyền...
Ngồi tựa cửa, đằng đẵng chờ mong, ḱa chim nhạn về nam, về bắc,
Ngóng người tiên, bao lần tưởng nhớ, nọ rồng đào lại lớn, lại sinh.
Việc bởi ḷng trời,
Không do ư muốn.
 
Nếu như:
Điển nhà Hán đặt lại,
Lễ nhà Hạ dựng lên.
Tấn t́nh cũ có khoan dung,
Cảnh ngộ này mới thanh thoát!
Đem người nọ mà hành đạo nọ, ḷng kính phục dài lâu,
Dùng đạo này hầu rạng thân này, tiết trung trinh giữ măi.
Đêm ngâm sách cổ,
Ngày đọc lời châu.
Chí vững như lời Hán chàng Tô lâng lâng khí tiết,
Nghĩa tỏ như đời Đường ông Kiệt lẫm lẫm oai phong,
 
Thế th́:  
Đức sách nàng Khương,
Tiết so vợ Thuấn.
Rạng thay tích cũ,
Sáng chói nên gương.
Vậy xin có thơ rằng:
Trời cao đất thấp bốn mùa thành,
Đáng trách ai kia đạo chẳng minh.
Mặt kính tuy trong bụi đă nhiễm,
Ḷng nhân vừa nhóm nhục c̣n ganh.
Đời Chu bắt chước ḷng trung hậu,
Thuở Hán nên theo lẽ trọn t́nh.
May gặpc trời, người cũng giúp rập,
Ḱa xem xă tắc lại xuân sinh.

 
 
THƠ PHÚC ĐÁP CỦA NGUYỄN THỊ LỘ
 
Kinh Thư nói: "vốn tự xưa nay trai gái chẳng khác,
Đời Phục Hy chồng vợ mới thành"
Người ở giữa đất trời, cha sinh mà mẹ dưỡng,
Đạo vốn theo thường lệ, trai dương mà gái âm.
Cuộc sống khác nhau,
Tâm t́nh vẫn giống.
 
Thiếp Đây:
Do âm dương biến hóa,
Tự cha mẹ sinh thành.
Học chữ "Tam ṭng", càng học càng sáng,
Nhớ điều "Tứ đức", càng nhớ càng vui.
Nết tựa lá đào xum xuê,
Đức như gót lân nhuần nhị.
Khốn nỗi lập nghiệp chàng Tống.
Khổ thay công chúa Hồ Dương.
Nêu gương vua Hán nhân từ,
Đáng khen hoàng hậu họ Mă.
Những mong anh hùng đẹp lứa,
Hằng ước quân tử giao duyên.
 
Bỗng gặp chàng đó:
Tướng mạo đường hoàng,
Nói năng hoạt bát.
Trong túi mũi dùi đă lộ, sức ngang trời dọc đất c̣n ai?
Trên tiệc món qúi đă bày, tài vượt chúng siêu quần mấy kẻ?
Nức ḷng hăm hở,
Chí hướng dồi dào.
Ngày ngắm h́nh mây, rồng nổi dậy, mây toan lên bắc,
Đêm trông dáng nguyệt, nhật nhô lên, nguyệt chuyển về Tây.
Ư đă hài ḥa,
Ḷng chàng gắn bó.
Trỏ núi nào thề, nào thốt, nguyện cùng nhau đầu bạc trăm năm,
Vạch sông làm chứng làm từ, ước cùng nhau sống lâu muôn tuổi.
Vun vút như cánh hồng thuận gío,
Băng băng như đàn cá trong hang.
Làu làu như gương chẳng vết nhơ,
Im ĺm như nước không gợn sóng.
Như vậy: chàng rằng chàng không chí khác,
Nhường kia: Thiếp bảo thiếp chẳng ḷng nào!
Tơ hào một chút cũng ngăn,
Lẽ sống muôn vàn sao thỏa?
 
Vậy sao đây?
Thế tuy đă rơ,
Việc vẫn chưa hay.
Chí tung mây tuy thành,
T́nh vợ chồng c̣n rốt.
Mây gió luống mong gặp hội, hóa ra chưa gặp hội gío mây,
Phượng rồng ước có hài hoà, hóa ra chưa hài hoà rồng phượng!
Chiều sớm sắt cầm vẫn nhớ,
Thở than mộng mị khó quên.
Nỗi gái t́nh thâm nhớ đến trai,
Nỗi trai chí lớn sao ngờ gáỉ
Tấc ḷng khó tả, đáng buồn thay, đáng giận thay,
Muôn cảnh vẫn c̣n, nhớ lắm đấy, mong lắm đấy.
Thiếp cũng muốn sang đông, há măi sầu uất ở đây chăng?  
 
Chỉ xin chàng nên:
Lấy quân tử làm ḷng,
Lấy thánh hiền làm đạo.
Vua Thuấn, xưa hai vợ, mà t́nh chăn chiếu vẫn đường hoàng,
Đời Ngu, có ông chồng mà nỗi buồng the không đắm đuối.
Đọc kinh sử thông kim bác cổ,
Lấy trung, thứ suy ta ra người.
Chớ nghĩ: Ai quên mối t́nh muộn màng?
Núi tuy khuyết mà ḷng thiếp không khuyết,
Chơ lo: Ai nhạt lời thề cố cựu?
Sông dù vơi mà ư thiếp chẳng vơi.
C̣n ǵ liệu đáng băng khoăn,
Phải chăng tự ḿnh chuốc lấy?
 
Chỉ riêng mong:
Xe thư một mối,
Văn giáo chung đường.
Dù kín mít như rồng ẩn vực sâu,
Sẽ sáng ḷe như đầu xuân nắng mới.
Vốn nhân, vốn kính, ngoài là vua vua, tôi tôi,
Cùng mến, cùng thân, trong là chồng chồng, vợ vợ
Phép có chính th́ lẽ mới thuận,
Nhà có hoà th́ việc mới thành.
Nghe gà gáy để đọc Tề thi, thiếp mong học hiền phi lập đức,  
Nh́n móng lân giữ nếp công tử, thiếp xin theo thánh mẫu ban nhân.
Cũng mong sáng chói ngh́n đời,
Để lại tiếng vang muôn thuở.
Làm ǵ không được,
Việc ǵ chẳng thành?  
Ước nguyện như ḷng,
Cầu mong như ư.
Ấy cũng theo rồng vượt biển
Khi nên cưỡi hạc lên trời.
Việc bởi người làm, mừng thay, trăm năm tiếng tốt,
Ư do trời định, qúi thay, muôn thuở danh thơm.
 
Kinh Thi có câu:
"Ḷng riêng, người khác, ta cứ đoán chừng,
Trời ban mệnh lệnh chớ nên sai trái".
 
Vậy xin có thơ rằng:
Ḷng son khẩn khoản việc mau thành,
Ai bảo cương thường đạo chẳng minh?
Ngày nắng lo chi mây chút gợn
Cây cao há phụ sắn b́m ganh!
Anh hùng gắng sức: anh hùng chí,
Phận gái đào tơ: phận gái t́nh.
Phúc đượm duyên trời cầm sắt hợp,
Nghiệm xem con cháu thánh hiền sinh.

 
Vân Tŕnh dịch
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re:Pó tay chưa ?  Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #35 - 02.02.2010 at 04:14:34
 

 
 
 
 Grin Grin Grin
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Taiso
Đai Đen
*****


Thành Viên Danh Dự.

Posts: 1120
Re: Re:Pó tay chưa ?  S.O.S!
Reply #36 - 04.02.2010 at 06:23:54
 
Quote from Badmonk on 02.02.2010 at 04:14:34:

 
Xin BQT xem lại Topic trên..có lẽ bị virus nặng!!!!
Back to top
 
 
View Profile   IP Logged
Kata
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 620
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #37 - 04.02.2010 at 12:41:46
 
Badmonk máy tính bị nhiễm nặng như thế này th́ thợ sửa cũng phải bó tay thôi,trừ khi cài lại nguyên cái máy Grin Grin Grin.
Back to top
 
 
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #38 - 22.04.2010 at 03:12:34
 

 
PHÚC -LỘC -THỌ Các cụ là ai ?
 
 
Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn"
 
 
Theo truyền thuyết của người Hoa Hạ, ông Lộc là một quan tham chuyên ăn của đút lót. Ông Thọ lại là vị quan thực dụng, ưa xu nịnh vua để được ban thưởng, trong dinh của ông cung nữ nhiều chẳng kém ở cung vua. Chỉ có ông Phúc là quan thanh liêm, ngay thẳng, con cháu đề huề.
 
Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các cụ Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong pḥng khách, trên nóc tủ chè, có nhà c̣n làm cả bàn thờ rơ đẹp để thờ ba cụ cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người sang th́ có cả ba cụ bằng gốm Tàu rơ to, rơ đẹp. Người tầm tầm th́ bằng gỗ pơ-mu hoặc sứ Bát Tràng…
 
Xin thưa, theo truyền thuyết, cả ba cụ đều là người Hán và dĩ nhiên đều sinh ra ở Trung Nguyên. Và ba cụ đều làm quan to ở ba triều đại.
 
Hăy kể theo thứ tự, bắt đầu từ cụ Phúc. Cụ Phúc tên thật là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Đường. Cụ xuất thân vốn là quư tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không v́ vinh hoa, phú quư mà làm mất nhân cách con người.
 
Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn". C̣n theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên th́ vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều ḥa sinh khí âm, khí dương cho nhau. V́ vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ư hợp. Hai cụ 83 tuổi đă có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ nhiên phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy. Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm! Phúc to, phúc dày lắm lắm! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:
 
- Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, c̣n mong ǵ hơn nữa. Rồi cụ cười một hơi mà thác. Được thác như cụ mới thực sự được về cơi tiên cảnh nhàn du.  
 
Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:
 
- Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…
 
Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi c̣n phúc nào bằng. Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.
 
 
Cụ thứ hai là cụ Lộc. Cụ Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính ḿnh, cho con, cho cháu, cho thân tộc.  
 
Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Đậu Từ Quân được như thế đă là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu năo bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Đến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:
 
- Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?
 
 
C̣n cụ thứ ba, cụ Thọ. Cụ Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lư làm quan của cụ Đông Phương Sóc là quan th́ phải lấy lộc. Không lấy lộc th́ làm quan để làm ǵ. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lăi to nhất. Nhưng cụ Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Được bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém ǵ cung nữ ở cung vua.  
 
Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ c̣n cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Đông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy-âm-để-dưỡng-dương.
Do cụ Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ t́m lời nói thật đẹp, thật hay để lấy ḷng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:
 
- Ông làm quan đầu triều mà không biết t́m lời phải, ư hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng th́ làm quan để làm ǵ.
 
Cụ Đông Phương Sóc vuốt cḥm râu bạc, cười khà khà bảo:
 
- Làm quan không lấy thưởng th́ tội ǵ mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ư, tức giận, chém đầu cả ba họ th́ sao?
 
Cụ Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giă cơi đời. Khi cụ chết th́ con không c̣n, cháu cũng đă hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội. Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích ǵ?
 
Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đă khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.
 
Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi.

 
 
DƯƠNG DUY NGỮ
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Chơi chữ, tṛ chơi … Trời cho!
Reply #39 - 08.06.2010 at 16:58:44
 

HOẠN QUAN
 
Lộc Đỉnh Kư, bộ tiểu thuyết kiếm hiệp sau cùng của Kim Dung đă dựa trên bối cảnh của triều đại nhà Thanh và sinh hoạt của triều đ́nh, điển h́nh là hệ thống hoạn quan, trong đó không ít những âm mưu chính trị có liên quan đến cái thế giới của những người đàn ông đặc biệt này. Một trong những câu hỏi mà người viết vẫn thường đặt ra là mặc dần văn hóa Việt Nam và Trung Hoa có rất nhiều tương đồng, tương cận và nhiều tập tục lễ nghi người ḿnh rập khuôn theo người Tàu nhưng tại nước ta hầu như ít có những viên thái giám có ảnh hưởng khuynh loát triều chính như ở Trung Hoa, trái lại chúng ta có khá nhiều danh thần xuất thân từ hàng yêm hoạn.
 
Người hoạn quan thứ nhất nổi danh trong lịch sử Việt Nam là Lư Thường Kiệt (1019- 1105) đời nhà Lư mà chúng ta ai cũng biết với chiến công phá Tống b́nh Chiêm. Lư Thường Kiệt quê ở Thái Ḥa, Thọ Xương, Thăng Long làm quan trải ba đời vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông lên đến chức Thái Úy, khi chết được phong là Việt quốc công
 
Người hoạn quan thứ hai cũng rất tiếng tăm là Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc (1713-1776) làm quan dưới đời vua Lê Hiển Tông là người đă cùng Phạm Đ́nh Trọng đánh bại hai tướng giặc Nguyễn Hữu Cầu và Nguyễn Danh Phương, khi về hưu được phong làm Quốc lăo. Về sau ông đem đại quân đánh vào kinh đô Phú Xuân của chúa Nguyễn, bắt được Trương Phúc Loan rồi trấn thủ Thuận Hóa, chấm dứt một giai đoạn phân tranh Nam - Bắc kéo dài hơn 200 năm.
 
Người thứ ba là Tả quân Lê Văn Duyệt (1763-1832) khai quốc công thần triều Nguyễn mà nay mộ của ông vẫn c̣n tại Bà Chiểu, Gia Định là một đền thờ được dân chúng chiêm bái dưới tên Lăng Ông. Lê Văn Duyệt tuy cũng xuất thân hoạn quan nhưng ông bản chất là người ái nam ái nữ chứ không phải tự thiến để thành quan thị như Việt quốc công Lư Thường Kiệt hay Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc. Ông theo pḥ Nguyễn Ánh, khi vua Gia Long lên ngôi ông được phong làm Khâm sai Tả quân dinh, B́nh Tây tướng quân, tước Quận Công, sau làm Tổng trấn Gia Định thành.
 
Cả ba người đều là vơ tướng, lập được nhiều chiến công hiển hách và cũng không ai để lại điều tiếng ǵ mặc dầu Lê Văn Duyệt sau khi chết có bị hạch tội v́ con nuôi của ông là Lê Văn Khôi nổi loạn ở thành Phiên An.
 
Thế nhưng khi nh́n vào lịch sử Trung Hoa, giới hoạn quan thường bị các sử gia đánh giá một cách nghiêm khắc v́ phần lớn các hoạn quan đều đóng một vai tṛ nào đó trong việc làm suy yếu hay sụp đổ một triều đại. Tin dùng hoạn quan và ham mê nữ sắc vẫn thường bị kết án là những nguyên nhân chính khi trao tay đổi chủ một ḍng họ. Thực tế, một khi quyền lực được tập trung một cách tuyệt đối vào trong tay một người hay một nhóm nhỏ, việc san sẻ quyền hành vào trong tay những người thân cận là chuyện đương nhiên, và có thể nói, tầng lớp hoạn quan là tôi tớ thân cận nhất của nhà vua và hoàng tộc. Từ vai tṛ một người đầy tớ được tin cẩn đến lúc trở thành một đại diện cho nhà vua chỉ là một bước ngắn. Muốn được thăng quan tiến chức, nhiều quan lại phải đút lót, nịnh nọt bọn đầy tớ này và cấu kết với họ ngơ hầu vai tṛ ḿnh được củng cố. Trong nhiều thời kỳ, hoạn quan thay mặt nhà vua để xét hạch việc làm của các quan địa phương, kiểm soát các sản phẩm mà triều đ́nh yêu cầu địa phương sản xuất, xem xét các cống phẩm và đôi khi cả quyền chỉ định các sứ thần.
 
Các quốc gia khác
 
Việc cắt bỏ bộ phận sinh dục nam giới không phải chỉ xảy ra tại Trung Hoa. Ngay hiện thời việc giải phẫu cắt bỏ sinh thực khí của ḿnh v́ bệnh tật, tôn giáo hay v́ một quan điểm tính dục nào đó vẫn c̣n công khai hay lén lút tại nhiều nơi trên thế giới, kể cả chính nước Mỹ. Ngày xưa, v́ ghen tương, báo thù hay để trừng trị những kẻ quá dâm dục nhiều người bị bắt buộc phải cắt đi bộ phận sinh dục. Một điểm cần nhấn mạnh là mặc dầu Trung Hoa đă định chế hóa vai tṛ của thái giám nhưng tập tục này đă hiện diện trong nhiều quốc gia, nhiều bộ lạc và xă hội có tục đa thê. Người ta thường sử dụng những người bị yêm hoạn làm kẻ hầu người hạ, canh giữ các t́ thiếp của vua chúa hay phú gia.
 
Theo truyền thuyết, việc cắt bỏ bộ phận sinh dục phái nam đă có rất lâu như một nỗ lực mà người đàn ông muốn trở thành nữ nhân để mong có được khả năng truyền chủng như phụ nữ (womanlike fertility) và nhiều nam thần linh đă có thể sinh con đẻ cái hoặc hóa thân thành người khác cũng chính là từ ư niệm này. Tại Trung Đông và một số quốc gia Phi Châu có tục cắt da qui đầu (circumcision) vào tuổi dậy th́ để đánh dấu sự thành niên của con trai cũng là nhằm bắt chước việc hành kinh của đàn bà và mảnh da đó dùng như một tế phẩm để dâng lên thượng đế (offerings to Yahweh).
 
Khi được chừng sáu, bảy tuổi, trong làng mọi người tụ tập tại một băi đất trống, giữa băi đất có để một tảng đá lớn cho đứa trẻ ngồi chờ thi hành nghi thức. Một bô lăo trong thôn đứng ra chủ tŕ trong khi một thiếu nữ đồng trinh (thường là em gái, chị gái người bị giải phẫu) giữ chặt đứa bé. Người trưởng lăo tung dao lên, khi rơi xuống sẽ tiến hành việc cắt da qui đầu trong khi chung quanh mọi người quan sát. Nếu cuộc giải phẫu thành công mà đứa trẻ không kêu khóc, người ta tin rằng khi lớn lên sẽ trở thành một người có chí khí, dũng cảm. Đứa trẻ đứng lên đi chung quanh sân trong khi máu vẫn chảy ṛng ṛng, giơ cao con dao để chứng tỏ ḿnh đă thành người lớn.
 
Người Trung Đông c̣n quan niệm rằng nếu giữ ḿnh trong sạch th́ sẽ dễ được lên thiên đàng và chính v́ thế nhiều nam nhân đă tự nguyện được thiến để thành yêm hoạn ngơ hầu được sống đời đời sau khi chết.[1]
 
Dưới thời đế quốc La Mă những thanh niên khỏe mạnh được tuyển chọn để đem thiến đi làm hoạn quan. Sử sách c̣n chép Bagoas là hoạn thần được vua Alexandre the Great sủng ái, c̣n vua Nero th́ có hoạn quan tên là Sporus.  
 
Người Ấn Độ chia người yêm hoạn ra thành ba loại: loại bẩm sinh lúc đẻ ra có dương vật (thingy
) nhưng không có dịch hoàn (testicles) , loại không có cả dương vật lẫn dịch hoàn và loại trở thành yêm hoạn sau khi giải phẫu. Sách vở cũng ghi lại rằng ở Ấn Độ thế kỷ trước có những người đi rong từ vùng này sang vùng khác thiến người kiếm ăn (traveling eunuch-makers) cũng chẳng khác ǵ những người đi thiến heo, thiến gà, thiến chó ở nước ta. Phương pháp của họ rất giản dị là buộc chặt bộ phận sinh dục bằng một mảnh băng (ligature) rồi cắt xoẹt đi bằng một con dao thật sắc. Tuy phương pháp đó có vẻ ghê rợn nhưng theo thống kê số tử vong cũng rất thấp. Những người bị thiến cũng trở thành khỏe mạnh và vạm vỡ chứ không èo uột như chúng ta lầm tưởng.
 
Trong thời Trung Cổ, nhiều quốc gia Âu Châu cũng có tục lệ thiến những kẻ bị kết án đa dâm (excessive cupidity) và nhiều giáo sĩ muốn giữ ḿnh trong sạch cũng tự cắt bỏ bộ phận sinh dục để khỏi vướng mắc vào đường t́nh ái. Những người này được gọi dưới cái tên Hesychasti có nghĩa là “kẻ măi măi trong sạch5], hủ h́nh hay âm h́nh. Sở dĩ có nhiều cách gọi khác nhau như thế cũng để chỉ phương pháp và mức độ tàn hại cơ thể. Trước khi cát thể, người có ư định trở thành thái giám được đặt nằm nghiêng trên một cái giường thấp,và được hỏi lần cuối cùng có hối hận ǵ khi bị “thiến” hay không. Nếu người đó trả lời không th́ một người sẽ giữ chặt bụng người đó, hai người khác banh hai chân ra giữ cho khỏi cục cựa. Băng vải được quấn chặt ở bụng dưới và hai đùi và “bệnh nhân” được cho uống một thang thuốc mê (ma phế thang), bộ phận sinh dục của y được chà xát bằng nước ngâm ớt. Cả dương vật lẫn dịch hoàn được cắt xoẹt chỉ một nhát dao sát tận đáy, một nút bằng kim loại cắm ngay vào lỗ sinh thực khí và vết thương được băng chặt bằng giấy bản, bên ngoài quấn vải thật chặt.
 
Người thái giám lập tức được những đao tử tượng d́u đi quanh pḥng trong hai ba giờ liền trước khi được quyền nằm nghỉ. Trong ba ngày liền, người đó không được uống nước và thời gian đó vừa đau đớn, vừa khát nước và cũng không được tiểu tiện. Sau ba ngày, vải băng được cởi ra và cái nút được rút ra và nếu bệnh nhân có thể đi tiểu được ngay th́ vụ giải phẫu coi như đă thành công và qua được thời kỳ nguy hiểm. Nếu người thái giám không tiểu tiện được có nghĩa là đường sinh thực khí đă bị thu hẹp hay bịt kín và chỉ c̣n đường chờ chết.
 
Ở Trung Hoa, việc giải phẫu để biến một nam nhân thành thái giám do một chuyên viên cha truyền con nối, được trả tiền mỗi lần chừng sáu lượng bạc (theo Jamieson th́ khoảng $US8.64 vào năm 1877, Gould tr. 756) trả công cho từ lúc cắt đến khi hoàn toàn b́nh phục. Người làm nghề này được triều đ́nh công nhận gọi là “đao tử tượng”. Mỗi đao tử tượng thu một số đồ đệ thường là con cái hay thân thích của sư phụ và nghề cũng được giữ bí truyền như nhiều ngành chuyên môn khác. Những người xin được làm thái giám thường là con cái nhà nghèo nên nếu muốn được thiến phải có người bảo đảm để trả số tiền này, nếu không đao tử tượng sẽ không làm.
 
Đến cuối đời Thanh, tại Bắc Kinh có hai gia đ́nh với danh xưng Tất Ngũ và Tiểu Đao Lưu có hợp đồng với triều đ́nh mỗi mùa cung cấp cho cung cấm bốn mươi hoạn quan, và coi như đặc quyền của hai gia đ́nh này, người khác không được hành nghề nữa. Người chủ gia đ́nh được phong thất phẩm nghĩa là một quan tước hẳn hoi. Hai gia đ́nh này đă có nhiều đời kinh nghiệm, kỹ thuật hoàn hảo nên số người bị chết chỉ chừng bốn, năm phần trăm mà thôi. Thành thử những ai muốn có con vào làm thái giám đề phải đến ghi danh tại hai gia đ́nh họ Tất và họ Lưu chờ đến lượt. Sau đó họ sẽ được xét hỏi, coi mặt mũi, nghe cách ăn nói, và xem có đủ lanh lợi thông minh để vào hầu hạ trong cung hay không, sau đó sẽ được xét thân thể sinh thực khí xem có hợp cách không mới được tuyển chọn. Lương bổng của thái giám cũng do hai gia đ́nh này nhận rồi phân phối lại, cho đến năm Quang Tự 26 (1900) mới bị triều đ́nh thu hồi giao cho Thận H́nh Ty quản lư.
 
Thế nhưng việc tĩnh thân để thành thái giám không phải chỉ trong việc cắt bỏ bộ phận sinh dục mà thôi. Nhiều gia đ́nh chuẩn bị việc cho con ḿnh tương lai sẽ làm thái giám từ khi c̣n nhỏ cũng không khác ǵ người ta bó chân con gái. Một bà vú (bảo mẫu) thường được gọi dưới danh xưng “dung phụ” được thuê để đặc biệt chăm sóc cho đứa trẻ ngay từ khi c̣n nằm trong nôi. Bà vú này có một thủ thuật riêng, mỗi ngày ba lần nắn bóp dịch hoàn đứa trẻ khiến đứa bé đau đến khóc thét lên. Lực bóp cũng tăng thêm và cơ quan sinh dục của đứa bé dần dần bị hủy hoại, khi lớn lên không những mất khả năng sinh dục mà dương vật c̣n teo dần khiến đứa trẻ có nhiều nữ tính, không có yết hầu, hai vú nhô cao, mông nở, giọng nói lanh lảnh, dáng điệu ẻo lả và trở thành ái nam ái nữ, thái giám một cách tự nhiên không cần phải qua việc giải phẫu.
 
Cũng có những gia đ́nh nghèo quá không kiếm đâu ra sáu lượng bạc để thuê chuyên gia thiến con ḿnh nên phải tự làm lấy.
 
2. Điển chế và lễ nghi
 
Tổ chức
Hoạn quan được gọi dưới nhiều tên khác nhau như tự nhân, yêm nhân, yêm hoạn, hoạn giả, trung quan, nội quan, nội thần, nội thị, nội giám, thái giám v..v... Đời Tần Hán, hoạn quan thuộc về thiếu phủ tự. Qua đời Tùy Đường gọi là nội thị tỉnh, đời Tống gọi là nội nội thị tỉnh. Qua đến đời Minh, tổ chức hoạn quan trở nên phức tạp, quyền lực của hoạn quan cũng lớn chia ra làm hai mươi nha môn mỗi bộ phận lo một việc như tư lễ, nội quan, ngự dụng, ngự mă, thần cung, thượng thiện, ấn thụ, trực điện, nội y, đô tri ..., mười hai giám, tám cục, bốn ti. Đời này quyền thế của hoạn quan rất lớn v́ họ thân cận hoàng đế, ai được sủng ái đều có thêm quyền lực thành nạn hoạn quan chuyên quyền. Qua đời Thanh, tổng quản thái giám là người đứng đầu ngạch hoạn quan, thuộc về nội vụ phủ nhưng quyền lực bị cắt giảm đi nhiều.
 
Nhiệm vụ của thái giám
Nhiệm vụ chính yếu của thái giám là hầu hạ trong cung vua, các phi tần, hoàng tử, công chúa. Ngay từ đời xưa, những nam nhân duy nhất trong cung điện đều là hoạn quan để bảo đảm những phi tần, công chúa không bị xâm phạm. Tuy nhiên, mặc dù hoạn quan bị mất khả năng sinh dục, họ vẫn có những thèm khát và đ̣i hỏi, nhất là những người bị thiếu sau khi đă đến tuổi trưởng thành. Trong nhiều trường hợp, chính họ là nạn nhân của những cung phi bị dồn nén, nhất là những thái giám c̣n nhỏ tuổi. Trong một vài triều đại, họ c̣n được phép ngủ chung với đàn bà trong cung để cho các phi tần có chút khí dương ngơ hầu ít bệnh tật. Sách vở chép là họ được thực hành những động tác giao hoan nhưng không thể giao cấu (engage in various forms of sex play but no actual intercourse).
 
Đối với những hoạn quan chỉ bị cắt dịch hoàn (removal of testicles) rất có thể họ vẫn cương cứng được và chính v́ thế nhiều lời đồn đăi họ vẫn có thể phục vụ cung nhân như trong trường hợp An Thế Hải (An Teh-hai) đời Thanh mặc dầu không có chứng cớ ǵ rơ rệt về việc này.
 
Một trong những lư do thái giám trở nên quan trọng trong hệ thống cung đ́nh chính là v́ vua chúa càng ngày càng biệt lập với quần chúng. Để tránh việc ngoại thích chuyên quyền và ảnh hưởng đến vua chúa, cung nữ chỉ được tuyển trong hàng dân dă và các vùng xa xôi (trước đây thường tuyển hậu phi trong các gia đ́nh quyền quí, vương tôn đại thần). Cung nữ sau khi được tuyển cung gần như mất tích, không c̣n bao giờ được ra khỏi hoàng cung. Những cô gái đó được nuôi như những món đồ chơi, sống quanh quẩn trong một phạm vi nhỏ hẹp, suốt ngày chỉ đàn hát, vẽ vời, thêu thùa ... chờ được hưởng ơn mưa móc. Ngay cả ngự y cũng không được gặp mà chỉ mô tả bệnh rồi cắt thuốc. Do đó họ không c̣n người thân nào gần gũi, và đă vào cung là coi như chết. Thái giám - với những mặc cảm sẵn có - lại càng lạm dụng cái quyền lực nhỏ nhoi mà họ có được v́ là những người gần gũi nhất của nhà vua.[6]
 
Đời Minh theo sách vở có đến 20,000 thái giám[7] nhưng con số này nhiều sử gia cho là phóng đại. Đời Khang Hi nhà Thanh có khoảng 9000, đến đời Càn Long giảm xuống chỉ c̣n 3000[8]. Vào cuối thế kỷ thứ 18, một viên chức người Anh ṭng sự tại Trung Hoa tên là George Carter Stent đă viết một khảo luận về tổ chức thái giám và cung đ́nh nhà Thanh cho biết vào thời kỳ này trong cung có khoảng 2000 thái giám. Thái giám thời đó tương đối ít v́ Từ Hi thái hậu cầm quyền nhiếp chính, các hoàng đế nhà Thanh đều là những cậu bé con nên chưa có phi tần cung nữ và v́ thế không có nhu cầu sử dụng thái giám. Sau cách mạng Tân Hợi triều đ́nh ban hành lệnh cấm tuyển thái giám nhưng phủ Nội Vụ vẫn lén lút sử dụng và năm 1922 vẫn c̣n 1,137 người. Năm 1924, vua Phổ Nghi ra đạo dụ phóng thích tất cả các hoạn quan chỉ giữ lại trong cung hai trăm người, phần lớn phục vụ các hoàng hậu, hoàng phi.
 
Đời Thanh, ngoài số thái giám trong cung cấm, các thân vương hoàng thất cũng được quyền nuôi thái giám trong nhà. Hoàng tử và công chúa đă có chồng có thể nuôi 30 thái giám, hoàng thân hay công chúa chưa chồng có thể nuôi 20 thái giám, c̣n con cháu th́ có thể nuôi 10 thái giám. Các thân vương con cái của các phi tần có thể nuôi 6 thái giám. Ngoài ra những người đứng đầu Bát Kỳ của nhà Thanh cũng có thể có được 20 thái giám trong nhà.
 
Cứ năm năm một lần, mỗi hoàng tử phải nạp vào triều 8 thái giám đă được huấn luyện và kiểm tra, những người đó phải sạch sẽ, không bệnh tật. Triều đ́nh trả công cho các hoàng tử 250 lạng bạc mỗi thái giám. Tuy thế số thái giám vẫn c̣n thiếu nên vẫn phải tuyển thêm thái giám ở ngoài.
 
Những tiểu thái giám xinh đẹp chừng mười mấy tuổi được tĩnh thân để tiến cung gọi là “đồng giám” hay “hài giám” thường được hoàng hậu, quí phi, quí nhân yêu thích. Những đứa trẻ này v́ đă tĩnh thân từ khi c̣n rất nhỏ nên được coi là rất trong sạch chưa vương vấn một ư niệm tính dục nào và thường được cung nhân, phi tần nuôi như như người ta nuôi một con vật yêu thích (pet). Chúng cũng được tự do hơn nghĩa là được vào phục vụ các cung nhân trong khuê pḥng hay trong buồng tắm ở những khung cảnh kín đáo nhất. Tuy nhiên khi đă lớn, họ vẫn bị thay thế bằng những thái giám nhỏ tuổi hơn và được điều động ra làm công việc ở bên ngoài khu vực phụ nữ sinh sống.
 
3. Đời sống một hoạn quan
 
Đă có những thời mà thái giám trở thành một giai cấp cách biệt, mặc dầu bị loại ra khỏi những đời sống b́nh thường cửa xă hội, họ vẫn có những sinh hoạt riêng đôi khi thần bí chỉ hạn chế trong những ngươi cùng chung số phận.
 
Cứ theo sách vở và truyện kư c̣n lưu truyền, sau khi đă cắt bỏ bộ phận sinh dục, âm nang (scrotum), âm hành (thingy
) của họ - được gọi dưới cái tên bảo cụ - sẽ được dùng những kỹ thuật riêng để bảo tồn và coi như một món đồ quí, giữ ǵn rất cẩn thận.
 
Trước hết bảo cụ được tẩm vôi bột để cho khỏi thối và hút hết những máu mủ c̣n trong đó để cho được khô ráo, sau đó dùng vải hay giấy bản lau sạch rồi mới đem ướp trong hương liệu để cho dầu thấm vào, đặt trong bao bằng lụa, cất trong hộp gỗ rồi hàn kín lại. Người ta sẽ chọn ngày lành tháng tốt, cung kính đưa chiếc hộp đó đến từ đường họ người bị thiến, cung kính treo chiếc hộp đó trên xà nhà. Sau đó mỗi năm, họ lại rút cái hộp đó lên cao thêm một chút, ư chúc tụng cho người bị yêm hoạn phục vụ trong triều đ́nh được thăng quan tiến chức.  
 
Việc ǵn giữ “bảo cụ” (gọi tắt là bảo) có hai lư do. Thứ nhất, mỗi khi được thăng thưởng, thái giám phục vụ trong cung đ́nh đều phải tŕnh cho thượng quan xem của quí để chứng minh rằng quả thực ḿnh đă được tĩnh thân (nghiệm bảo). Chính thủ tục này cũng gây nên nhiều chuyện trớ trêu, hoặc đao tử tượng giữ “bảo” làm của riêng để sau này bán lại, cho thuê những ai muốn thăng quan nhưng lại không giữ được món đồ của ḿnh, v́ bị thất lạc hay bị kẻ gian ăn cắp mất. Lư do thứ hai, là khi người đó chết đi, lúc tẩn liệm người ta sẽ hạ phần thân thể bị cắt ra c̣n đang treo trên xà nhà xuống may cho dính lại chỗ cũ, c̣n tờ “tự nguyện yêm cát thư” (đơn t́nh nguyện xin cắt bỏ bộ phận sinh dục) sẽ được đốt trước linh sàng để người chết được khôi phục nguyên trạng ngơ hầu dưới cửu tuyền c̣n mặt mũi mà nh́n lại cha mẹ tổ tiên và nếu có đầu thai th́ kiếp sau cũng được toàn vẹn thân thể. Người Tàu tin rằng nếu khi xuống dưới âm, Diêm Vương nếu thấy ai thiếu dương cụ sẽ bắt đi đầu thai thành con la (một giống nửa lừa, nửa ngựa không thể sinh sản được).
Thành thử mỗi khi có biến loạn ở kinh thành, nhiều thái giám đă hoảng hốt chạy đi t́m cái bảo cụ của ḿnh, có khi tranh cướp nhau để mong được chết toàn thây. Kể cũng là một thảm cảnh của một tập tục dă man.
 
Mặc dù bị thiến, vẫn có những hoạn quan vẫn hoang tưởng rằng họ có thể “mọc” lại được. Chính v́ niềm tin đó, đời Thanh đă có luật lệ rằng tiểu thái giám nhập cung rồi sau ba năm sẽ phải qua một kỳ “tiểu tu”, năm năm qua một kỳ “đại tu” để những thái giám chuyên môn xét lại xem ngọc hành có “trùng sinh” hay không. Nếu ai hạ thể phồng lên sẽ phải qua một kỳ “tu lư”. Thực tế, con người trong thời kỳ phát dục, kích thích tố có thể làm thay đổi một số hiện tượng bề ngoài nhất là nhưng người có nhiều nam tính, các tuyến trong người vẫn hoạt động điều ḥa. Tuy nhiên, những người bị tra xét kỹ lưỡng nhất vẫn là những trẻ em bị “thiến” bằng phương pháp nắn bóp để đưa vào hầu các tiểu hoàng tử, tiểu công chúa, đến thời kỳ trưởng thành các tuyến nội tiết hoạt động mạnh và chính v́ thế có thể trở lại b́nh thường để bị cát thể lần thứ hai.
 
Theo sách Thần Viên Tạp Thức, thái giám thường thích ăn các loại thức ăn tráng dương và dùng những toa thuốc như Mẫu Cẩu Cảnh Tán, Thiên Khẩu Nhất Bôi Ẩm, Ngọc Cảnh Trùng Sinh Phương ... để mong trở lại b́nh thường.
 
Về phần ngoại mạo, người đă bị yêm cát thay đổi rất nhiều, trở nên có nhiều nữ tính, không mọc râu, không lộ hầu, ngực nhô lên, mông nở, thanh âm the thé, hành động yểu điệu, da dẻ cũng nhẵn nhụi hơn trông chẳng khác ǵ đàn bà mặc giả đàn ông.
 
V́ hạ thể nở nang, đùi và chân to ra, thái giám thường đi chân chữ bát, bước ngắn mà nhanh. Thái giám cũng dễ trở nên ph́ nộn, mặc dầu da thịt thường nhăo nhoẹt nhưng đến già lại teo đi nên những người có tuổi da dẻ lại nhăn nheo hơn b́nh thường khiến thái giám bốn mươi tuổi trông già như đàn bà tám mươi. Trong sách Huyền Động Áo Luận có chép:
“Người bị yêm cát, trong dương có âm, trong âm có dương, tinh lực âm nằm ở trong tạng dương, tinh lực dương nằm ở trong tạng âm nên h́nh dáng rất khác thường.”
 
Cứ theo sách vở, thái giám thường là đề tài để cho người ta diễu cợt, châm chọc lắm khi rất tàn nhẫn. Ở Bắc Kinh có một khu vực tên là Thiên Kiều, là nơi có tŕnh diễn những nghệ thuật dân gian, trong đó có một loại hí kịch gọi là “tướng thanh” bao gồm hai người, kẻ xướng người đáp trong đó thái giám thường bị lôi ra làm tṛ cười.
 
Người bị thiến ngoài những thay đổi thể chất, tinh thần cũng ảnh hưởng nặng nề và chính v́ thế họ trở nên độc ác, nhỏ nhen, tàn nhẫn khác với người thường. Ngoài ra, thái giám v́ bị khiếm khuyết các cơ ở hạ bộ nên thường hay bị són nước tiểu ra quần, thành thử nặng mùi nên cũng hay bị chế riễu. Trong một xă hội c̣n kém văn minh, những người bất hạnh v́ cơ thể bị khuyết tật không được xă hội ưu đăi mà thường bị ngược đăi. Hiện tượng đó vẫn c̣n xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới kể cả Việt Nam ta.

 
 
Nguyễn Duy Chính
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Aisin Gioro Puyi : From Emperor to Citizen, Foreign Language Press, Beijing 1965 (bản dịch Ngă Đích Tiền Bán Sinh)
- Mary M. Anderson: Hidden Power, The Palace Ennuchs of Imperial China, Prometheus Books , 1990
- Bá Dương: Sử Cương Văn Tuyển, Tinh Quang, Đài Bắc 1979
- Barbara Walker: The Woman’s Encyclopedia of Myths and Secrets, Harper & Row, San Francisco 1983
- Dương Minh Đỉnh: Trung quốc Văn Hóa sử đại từ điển, Viễn Lưu xuất bản công ty, Triết Giang, Đài Loan 2nd Ed. 1990
- Guold , George M., M.D. và Pyle : Anomalies and Curiosities of Medicine, The Julian Press , Inc. 1896 (in lại do Bell Publishing Company , Inc. )
- Hứa Hoành: Sau Bức Cấm Thành Nhà Nguyễn, Đại Nam 1994
- Lại Kỳ: Trung Quốc Cổ Đại Tính Tàn Hại , Hạ Hỉ văn hóa, Đài Bắc 1995
- Phổ Nghi: Nửa đời trước của tôi (Ngă Đích Tiền Bán Sinh) Quảng Giác Kính, Hongkong 1986
- Toan Ánh: Nếp Cũ, Xuân Thu (in lại tại hải ngoại, không đề năm)
- Béguin, Gilles và Morel, D. The Forbidden City: Center of Imperial China Discoveries Series, Thames and Hudson Ltd. London 1997 (bản dịch từ tiếng Pháp La cité interdite des fils du ciel)
- Chu, Valentin, The Yin-Yang Butterfly, A Jeremy P. Tarcher/Putnam Book, NY 1993
 
 
[1] The kingdom of heaven is thrown open to eunnuchs
[2] permanently chaste ones
[3] Barbara Walker: The Woman’s Encyclopedia of Myths and Secrets tr. 147
[4] Thu Hà, Giai phẩm Xuân Mới Xuân Tân Tị - Nghĩa Trang Thái Giám tr. 300
[5] Gọi là tàm thất để chỉ sau khi bị thiến, nạn nhân phải sống trong một căn pḥng mà độ ấm luôn luôn được duy tŕ trong một thời gian ít nhất ba tháng để tránh gió máy, bệnh tật cho đến khi vết thương lành hẳn (chẳng khác ǵ người ta phải hơ cho căn pḥng nuôi tằm để trứng nở ra sâu).
[6] Trong nhiều thời kỳ, họ c̣n trực tiếp điều hành việc chăn gối của hoàng đế (monitoring imperial sex) để bậc quân vương khỏi bị hao tổn tinh lực quá độ trong đó có cả việc ngắt ngang bằng cách đọc một tờ di chiếu của tiên vương khiến cho nhà vua phải rời người cung phi ngay lập tức để qú xuống nghe tuyên chỉ (Not only was he monitored, but he could be stopped in the middle of intercourse by a eunuch, should the latter deem that the intercourse had been too lengthy for the emperor,s health... If a eunuch started reading one of these family admonitions, the emperor would feel obliged to suspend his activity and kneel down at once. The occasion was something like hearing a national anthem. The Yin-Yang Butterfly, Valentin Chu, A Jeremy P. Tarcher/Putnam Book, NY 1993 pp. 44-45)
[7] Theo lời tự thuật của vua Phổ Nghi, vị hoàng đế cuối cùng của triều Măn Thanh trong tác phẩm”Nửa đời trước của tôi” (Ngă đích tiền bán sinh) th́ đời Minh trong cung có đến mười vạn thái giám.
[8] The Forbidden City, Gilles Beùguin and Dominique Morel, Discoveries 1997 tr. 77
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Pages: 1 2 3 
Locations of visitors to this page