Welcome, Guest. Please Login.
Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket
08.09.2010 at 22:22:20
News: Nếu muốn đăng kư làm thành viên, xin đọc kỹ Chủ Trương & Nội Qui Diễn Đàn (trong phần "Thông Báo của BQT") rồi email cho ktvt@ymail.com. Trong ṿng 7 ngày kể từ khi đăng kư, cần gửi ít nhất 1 bài để xác minh việc đăng nhập thành công. Nếu không, nick của bạn sẽ bị khoá.


Pages: 1 ... 5 6 7 8 
Hoa Đào Năm Ngoái C̣n Cười Gió Đông (Read 5806 times)
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Hoa Đào Năm Ngoái C̣n Cười Gió Đông
Reply #120 - 15.12.2009 at 18:33:10
 
 
Minh hoạ Lâm Ấp bát nhạc (Rynyu hachigaku) từ hoạ quyển "Shinzei-Kohaku-zu" (Tín Tây cổ nhạc đồ) vẽ vào thế kỷ 12
 
 
Hát bội ( bộ ) Việt Nam và Bairo Bugaku Nhật bản có cùng nguồn gốc ?
 
 
Âm nhạc cung đ́nh Nhật Bản (Nhă nhạc, Gagaku) do nhiều nguồn, gồm:  
 
-Từ Triều Tiên, Măn Châu (gọi là tả phương, bên trái)  
-Trung Quốc , Đông Nam Á (gọi là hữu phương)

 
Trong các điệu gagaku nay vẫn thịnh hành tại Nhật th́ 8 điệu có nguồn gốc Việt Nam, trong đó phổ biến là điệu Bairo Bugaku (Bồi Lô vũ nhạc). Tài liệu của Viện nghiên cứu nhă nhạc Kyoto ghi như sau về Bairo:
(Khúc nhạc này c̣n gọi Bairo Bashingaku (Bồi Lô phá trận nhạc), là một điệu múa điển h́nh trong các điệu vũ nhạc gọi là Thái B́nh nhạc tả phương. Khúc vũ nhạc này là một trong tám điệu múa gọi là Lâm Ấp Bát nhạc do ngài Bà La Môn tăng chính nổi tiếng là Bồ Đề Thiên Na và nhà sư Phật Triết người Lâm Ấp (Việt Nam) truyền vào Nhật Bản dưới thời Thiên Ḥang Shomu (trị v́ từ 724 đến 748). Thái tử Shotoku , ngài Monobe no Moriya và ngài Hiroman Taro Yoshie thường hay cho tấu điệu vũ nhạc này khi ra trận . Từ xưa khi xuất trận các quân nhân thường hay cho tấu khúc nhạc này để cầu chiến thắng. Trong thời đại Naira, chùa Tosodai (Đường chiêu đề tự) thường cho tấu khúc này vào ngày hội nhân lễ Phật Đản, cho nên hội này c̣n gó tên là “Hội nhạc Bairo” ). Như thế chính Nhật bản công nhận điệu vũ nhạc (gagaku, một thể lọai opera vừa múa vừa hát) này là nhạc Lâm Ấp (chú thích là Việt Nam, đúng ra là miền trung Việt Nam hiện nay thời nhà Đường).  
 
Vậy Bairo là tên phiên âm của điệu múa này, gọi theo tên Hán Việt từ tiếng Nhật là Bồi Lô (Trung Quốc gọi là Bội Lă hay Bộ Lă), cũng gần tên tiếng Việt của Hát bội (hay hát bộ), tức là tuồng tại vùng B́nh Định, vùng kinh đô cũ của nước Chiêm Thành). Bairo bugaku và hát Bội có liên quan thế nào c̣n phải chờ các nhà dân tộc học, sử học, âm nhạc học nghiên cứu tiếp.  
Phật Triết (tiếng Nhật là Buttetsu) là nhà sư người Lâm Ấp cùng với nhà sư Ấn Độ Bodisena (Bồ đề tiên na) kế bạn sang tu tại Ngũ Đài sơn (Sơn Tây, Trung Quốc), rồi vào thăm Trường An, sau đó được phía Nhật Bản mời sang Nhật năm 736. Bodisena mất tại Naira năm 760, Phật Triết có lẽ mất trước đó ít lâu (v́ năm 752 hai ông c̣n dự lễ khai nhăn tại chùa Todaiji tại Naira). Bodisena sinh khỏang năm 704 tại bắc Ấn Độ, Phật Triết cũng khỏang đó, cả hai sang Nhật và rất được trọng dụng. Tiểu sử hai ông ghi lại đầy đủ nhất trong Đông Đại tự lược kư (Todaiji ryokki)

Tên chính xác của nhà sư Lâm Ấp truyền dạy cho NhậtBản 8 điệu bugaku của người Lâm Ấp là PHẬT TRIỆT, tài liệu gần đồng thời do đệ tử của ngài Bodisena sọan gọi như thế (các tài liệu sau như Tục Nhật bản kỷ, Đại Nhật bản sử, Phù Tang lược kư đều gọi là Phật Triết):  
 
(trích bia 南天竺婆罗门僧正碑 Minami Tenjiku Baramon sôseihi, do Nhập thất đệ tử truyền đăng của Cố Bà la mônTăng Chính là ngài Shuei/Tu Vinh sọan ngày 11 tháng 4 năm Thần Hộ Cảnh Vân (770). Bia dựng trên núi Linh Sơn, ngoại thành Nara ngày nay, trên đường đi Heguri.)
 
(Gặp lúc thánh triều (thiên hoàng Shomu của Nhật Bản) thông hiếu, khiền sứ nhập Đường. Sứ nhân Đan trị Tỉ chân nhân Quảng Thành (Tajihino Mabito Hironari), học vấn tăng Lư Cảnh cùng ngưỡng mộ cao thanh, cầu ngài Đông độ (thăm Nhật Bản). Ngài (Tăng chính) cảm kích lời mời khẩn thiết, không đành từ chối, bèn lấy ngày 13 tháng 12 năm Khai Thiên thứ 18 của Đại Đường (đúng ra là năm 23, tức ngày 30/1/736) , cùng đồng bạn là các ngài PHẬT TRIỆT, nhà sư người Lâm Ấp, Đạo Tuyền, nhà sư người Đường. lên thuyền vượt bể. Trên đường đi bỗng gặp băo lớn, sóng dữ mịt mù, trời đen kịt chẳng biết phương hướng ǵ nữa, tính mệnh như mảnh vải treo đầu gió, cái chết chỉ trong tấc gang. Mọi người trên thuyền kinh hăi, chẳng biết xoay sở ra sao. Ngài (Tăng chính) bèn tập trung thần lực, nhập thiền cầu Phật, một lát sau th́ gió yên sóng lặng, mọi người đều ca tụng điều thần dị của ngài. Ngày 18 tháng 5 năm Tenpyo (Thiên B́nh) thứ 8 (tức 1 tháng 7 năm 736 dương lịch) đến được Tsushi Dazaifu (nay thuộc tỉn Fukuoka, bắc đảo Kyushyu)…
 
Trích Nguyên Hanh Thích thư (Genkoshakusho, tiểu sử cao tăng của Nhật Bản)):
 
(Thánh Vũ Thiên ḥang năm Thiên B́nh (Tenpyo) thứ 8, nhà sư Nam Thiên trúc là Bồ Đề cùng với nhà sư nước Lâm Ấp (Rinyoo ) là Phật Triết, đi chiếc thuyền nhỏ ghé cảng Nanba (Osaka ngày nay). Nhà sư Bồ Đề thuộc ḍng tộc Bà La môn, là tầng lớp quư tộc cấp cao nhất ở nước ngài (theo Tây Vực Kư của Huyền trang nhà Đường). Thiên Hoàng vô cùng sùng kính ngài (Bồ Đề Tiên na), sau phong làm chức Tăng Chính (vị tăng lữ cao cấp nhất của triều đ́nh), đương thời gọi là Bà la Môn Tăng chính. Ngài Phật Triết thông thạo âm nhạc bản xứ (Lâm Ấp). Ngày nay trong nhạc bộ có các khúc Bodi (Bồ Đề), Bạt Đầu già (Batooka), Lâu tần (Roubin) và nhạc Lâm Ấp (Rinyougaku) đều là do ngài Phật Triết truyền lại (cho Nhật Bản) (Theo Genkoshakusho của Kokan Shiren虎関師錬, sọan năm 1322))
 

Bato (Bát Đầu)

Ryo wo (La Lăng Vương hay Long Vương)
 
Mấy bức h́nh điệu vũ "La Lăng Vương" dưới đây chụp được từ chương tŕnh do đoàn Otonowakai Gagaku từ Kyoto tŕnh diễn tại Trung tâm Văn hoá Nhật ở Toronto, tháng 6.2006.  
“La Lăng Vương” (Ryo-uo)– tên một trong tám vị Long Vương (Shakara Ryo-uo) – thuộc vũ điệu Naga (trong tín ngưỡng thờ Rắn/Rồng của Ấn Độ và Chămpa) do sư Phật Triết truyền vào Nhật Bản.

 
Theo Viện nghiên cứu Đông Bắc Á Lê Hải Nam
 
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Hoa Đào Năm Ngoái C̣n Cười Gió Đông
Reply #121 - 26.12.2009 at 16:39:39
 
 
 
Đứng bên cạnh h́nh ảnh các Samurai hiên ngang bất khuất là những cảm tử quân ít người biết đến: Kamikaze (Kami = god; kaze = wind ; Kamikaze = Thần Phong).
 
Thần phong, gió thần hay Kamikaze (tiếng Nhật: 神風; kami = thần, kaze = phong) là một từ tiếng Nhật, được những tiếng khác vay mượn để chỉ các cuộc tấn công cảm tử bởi các phi công chiến đấu Nhật Bản chống lại tàu chiến của các nước Đồng Minh trong Thế chiến thứ hai trong giai đoạn kết thúc Chiến dịch Thái B́nh Dương.
 
Phi công Kamikaze sẽ lái máy bay của ḿnh, thường là chở đầy thuốc nổ, bom, thủy lôi và b́nh đựng xăng đâm vào tàu địch. Máy bay của anh như vậy có vai tṛ hỏa tiễn sống trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm tăng tối đa độ chính xác và tổn thất cho địch quân so với bom đạn thông thường. Mục tiêu của các phi công này là đánh phá càng nhiều càng tốt tàu bè của phe Đồng Minh.
 
Các cuộc tấn công này bắt đầu từ tháng 10 năm 1944, sau một số trận thua nặng nề của Nhật Bản. Việc tiềm lực chiến tranh giảm sút– cùng với việc mất đi rất nhiều phi công giỏi giàu kinh nghiệm–sản xuất công nghiệp suy yếu đi so với Hoa Kỳ, cũng như việc chính phủ Nhật Bản không muốn đầu hàng, dẫn đến chiến thuật sử dụng kamikaze khi lực lượng Đồng Minh tiến đánh Quần đảo Nhật Bản.
 
Các cuộc tấn công cảm tử Kamikaze là các cuộc tấn công nổi tiếng nhất và được biết đến nhiều nhất, giống như các cuộc "xung phong banzai" bởi bộ binh Nhật. Ngoài ra, người Nhật c̣n có các đội tấn công cảm tử khác như tàu ngầm Kairyu, thủy lôi sống Kaiten, khinh tốc đỉnh Shinyo.

 

 
Trong những năm đầu của thập niên 1940 khi hạm đội Mỹ khống chế Thái B́nh Dương, những cuộc đụng độ giữa hải quân Nhật-Mỹ liên tục diễn ra, đặc biệt là sau trận Trân Châu cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941 với thắng lợi thường thuộc về người Mỹ v́ Mỹ có ưu thế lớn về hải quân và không quân. Những thất bại đó mà đỉnh điểm là trận Hải chiến biển Philippines đă khiến quân Nhật nghĩ đến những phương sách khác, trong bối cảnh đó bộ tham mưu Nhật đă nghĩ đến những cuộc tấn công cảm tử để tái lập thế quân b́nh lực lượng. Người đầu tiên đưa ra ư tưởng này là chỉ huy trưởng căn cứ Nhật Tateyama tuy không được chấp thuận nhưng ư kiến này đă được bảo lưu và nghiên cứu.
Hồi đầu chiến dịch Thái B́nh Dương trong Đại chiến thế giới thứ 2 của Nhật, Onishi là Trưởng pḥng phát triển không quân của Hải quân Nhật, và là người chịu một số trách nhiệm về kỹ thuật trong đợt tấn công của quân Nhật vào Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), dưới sự lănh đạo của thống đốc hải quân Isoroku Yamamoto. Bản thân Onishi đă từng phản đối cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng, khiến cho Mỹ sau đó tuyên chiến với Nhật và dẫn đến một cuộc chiến đẫm máu, và cuối cùng Nhật đă phải đầu hàng không điều kiện.
Takijirō Ōnishi (2/6/1891–16/8/1945) là một thống đốc hải quân của Nhật, được biết đến như là cha đẻ của Kamikaze.
 
Vào tháng 10/1944, Onishi được thăng chức thành tư lệnh Chiến hạm Không quân ở phía bắc Philippines. Onishi đă nghiên cứu các phương pháp đánh cảm tử vào những tàu chiến của quân Mỹ và Đồng minh, phương pháp mà hồi đầu Onishi đă từng phản đối. Sau khi bị mất dăy đảo Mariana, Onishi thay đổi ư kiến và ra lệnh tấn công bằng máy bay chứa đầy bom. Kế hoạch là khoảng 250 kg bom được đưa lên máy bay Misubishi A6M Zero và đâm thẳng vào tàu chiến địch.
 
Trong buổi gặp mặt ở sân bay Magracut gần Manila , Philippines vào ngày 19/10, Onishi đến thăm đội bay 201 đă cho rằng: "Tôi nghĩ chúng ta sẽ không c̣n phương pháp nào giữ được Philippines , bằng cách cho 250 kg bom lên chiếc Zero và đâm thẳng xuống tàu chiến Mỹ". Từ đó những cuộc tấn công theo kiểu Kazmikaze này liên tiếp được tiến hành, nhưng không phải mọi máy bay đều đâm trúng đích. Nhiều chiếc đă bị bắn rơi trước khi kịp đâm trúng mục tiêu.

 
Bộ tư lệnh tối cao Nhật lúc đó đă tin tuởng vào hiệu quả đặc biệt của chiến thuật 'bom nguời' và Nhật Hoàng Hiro Hito đọc diễn văn ca ngợi những chàng trai trẻ tuổi đôi mươi đă ra đi 'chết hạnh phúc và tự hào v́ hoàng đế và sự chiến thắng'. Số người tự nguyện hi sinh nhiều gấp 10 lần số máy bay mà quân đội Thiên hoàng có.Theo nhà nghiên cứu Maurice Pinguet,những phi công đó biết rằng sớm hay muộn ǵ họ cũng sẽ hi sinh trong một cuộc chiến không cân sức nên họ đă chọn một cái chết nhanh chóng và có ích hơn.Họ không được hứa hẹn một sự đền đáp nào,một thiên đường nào kể cả niềm tự hào chiến thắng.Trong số những người t́nh nguyện,có cả những sinh viên;họ được huấn luyện trong một chế độ đặc biệt trong 7 ngày; 2 ngày cho việc cất cánh với một quả bom 250kg; 2 ngày cho việc bay theo đội h́nh và 3 ngày cho việc tiếp cận mục tiêu và tấn công. Phần lớn các kamikze đêu là những thanh niên ưu tú của Nhật Bản ở độ tuổi 20,họ là sinh viên của những trường Đại Học Nhật Bản ,phần lớn họ theo học các ngành kỹ thuật . Chính học đă tự đăng kư đẻ được trở thành các Kamikze-hi sinh cho Tổ Quốc .Tinh thần Samurai đă thấm nhuần vào ḍng máu nhưng người con Nhật Bản và danh sách đăng kư ngày càng tăng cao.
Và vào một buổi chiều, nguời chỉ huy truởng căn cứ báo cho họ biết lệnh xuất phát vào sáng hôm sau. Họ chỉ c̣n có một đêm cuối cùng để viết một bức thư cuối cùng cho cha mẹ.Sáng sớm,sau buổi thuyết tŕnh thuờng lệ , họ có mặt trong những bộ đồ bay, bên sườn lủng lẳng thanh trường kiếm của nguời hiệp sĩ samurai , đầu quấn chiếc băng chéo thêu nổi h́nh mặt trời mọc . Chỉ huy trưởng căn cứ trao cho mỗi nguời một cốc rượu sake ; tất cả nghiêng ḿnh về hướng cung điện của Nhật hoàng truớc khi chạy bổ nhào đến máy bay truớc sự hoan hô nồng nhiệt của các đồng đội c̣n ở lại . Theo truyền thuyết, những phi công trẻ trong các sứ mệnh tự sát kamikaze sau khi cất cánh thường bay về hướng Tây Nam của nước Nhật ở cao độ 992 mét ( khoảng 3.000 bộ Anh) của vùng núi Kaimon . Quả núi cũng được mang tên gọi là "Satsuma Fuji" (có nghĩa là "Phú sĩ sơn của làng Satsuma" , có nét đẹp tựa núi Phú sĩ Fuji ở hướng Tây - Tây Nam của Đông kinh, Tokyo ). Các phi công đă phải ngoái cổ nh́n qua vai của họ để nh́n thấy được ngọn núi xa tít phía Nam trên giải đất Nhật, và trong khi bay trên không , trước khi rời xa măi măi đất mẹ, họ nói lời vĩnh biệt và phất tay chào ngọn núi lần cuối...
 
Những người dân cư ngụ trên đảo Kikaijima, nằm về phía đông của làng Amami Oshima, nói rằng các phi công trong những nhóm thi hành sứ mệnh tự sát đă thả những nhánh hoa tươi từ trên không, khi họ đang đi bay, chuyến bay sứ mệnh cuối cùng . Theo truyền thuyết th́ những ngọn đồi ở chung quanh phi trường Kikajima có những luống hoa (giống như hoa bắp, cornflower) thường trổ hoa vào đầu tháng Năm

 

Tuy nhiên cũng có nhiều người tỏ ư nghi ngời hiệu quả của chiến thuật kamikaze, trong đó có cả các phi công nổi tiếng. Trung úy Yukio Seki, phi công kamikaze thứ 24 trong đội đặc nhiệm tham gia đánh ch́m hàng không mẫu hạm St. Lo viết: "Tương lai Nhật Bản thật ảm đạm nếu như chúng ta buộc phải hy sinh những phi công giỏi nhất của ḿnh. Tôi tham gia chiến dịch này không v́ Đế quốc Nhật hay v́ Hoàng Đế... Tôi tham gia v́ tôi được lệnh phải tham gia!" Trong chuyến bay, chỉ huy của anh nghe thấy anh nói "Thà chết c̣n hơn sống như một kẻ hèn hạ."
 
Tuy nhiên, nh́n chung người ta không có khó khăn tuyển mộ phi công. Yêu cầu rất đơn giản: "Trẻ tuổi, nhanh nhẹn và hăng hái. Chỉ cần kinh nghiệm bay ở mức tối thiểu, kỹ năng hạ cánh không cần thiết". Đại tá Motoharu Okamura nhận xét "có nhiều người t́nh nguyện cho các phi vụ cảm tử đến mức đông như đàn ong, v́ ‘ong chết sau khi đốt’". Các phi công Kamikaze tin tưởng bằng sự hy sinh của ḿnh, họ đă đền đáp lại công ơn gia đ́nh, bạn bè và Thiên hoàng. "Họ hăng hái đến mức khi chuyến bay bị tŕ hoăn hay hủy bỏ, th́ các phi công trẻ được huấn luyện sơ sài này tỏ ra hết sức bực dọc. Nhiều người sau khi được chọn thực hiện các phi vụ cảm tử được kể lại là rất hân hoan vui sướng trước phi vụ cuối cùng của ḿnh".

 
Chiến công của các thần phong :
 
7 giờ 30 sáng ngày 13/04/1945, khi các loa phóng thanh của quân đội Mỹ đồng loạt báo tin tổng thống Roosevelt từ trần th́ cũng là lúc 185 máy bay Thần phong, được sự hỗ trợ của 150 chiến đấu cơ Zero, 45 phi cơ phóng lôi của Nhật tấn công vào hải quân Mỹ ngoài khơi Okinawa. Lần đầu tiên quân Nhật sử dụng một vũ khí mới, đó là bom bay OKA (hoa Anh Đào nở). Bom bay này do máy bay mang theo và phóng đi. Mỗi qủa bom bay có một cảm tử quân ngồi bên trong, điều khiển trái bom đánh trúng mục tiêu và hy sinh khi bom nổ.
Tám chiếc oanh tạc cơ Mitsubishi G4M đem theo loại bom bay mới OKA cùng tham gia tấn công gây nỗi kinh hoàng trên các tầu Mỹ. Một trái bom bay đánh trúng khu trụ hạm Abele đă bị thương v́ một Thần phong đâm trúng, chiến hạm nổ tung và bị cắt làm 2. Mốt trái khác đánh nổ tung khu trụ hạm Stanly. Trong lúc đó, các Thần phong đánh ch́m tầu LST33, đánh hư hại nặng một thiết giáp hạm, 3 khu trục hạm và 8 hạm tầu khác.
 
Tối hôm đó, loa phóng thanh của Nhật kêu gọi: "Quân đội Thiên hoàng chia buồn cùng quân Mỹ về cái chết của tổng thống Roosevelt. Cái chết của ông mở màn tấn thảm kịch của Hoa Kỳ và tấn thảm kịch ấy xẩy ra ở đây, ngay đối với bản thân các người. Lực lượng đặc biệt của Nhật Bản (tức Thần phong) sẽ liên tục đánh ch́m tầu bè của các người. Các người sẽ làm bạn với cây cỏ của đảo này".
 
 
Tọa độ chính của những điệp vụ kamikaze
 
Ngày 25/05/1945, hợp đồng tác chiến với cuộc rút quân ở Shuri (pḥng tuyến chính của Nhật trên đảo Okinawa) là đợt tiến công của Thần phong lần thứ 7 ở Okinawa.
 
Suốt 12 giờ liền, 176 Thần phong chia làm nhiều đợt từ Nhật Bản đến biển Okinawa để lao ḿnh vào hạm đội Mỹ. Một số bị bắn nổ tung trên trời, một số rơi xuống biển nhưng có những chiếc lao trúng mục tiêu. Khu trục hạm Bates bị hai chiếc đâm trúng, nổ tung và ch́m ngay, tầu đổ bộ LSM 135 ch́m, 4 biến hạm khác bị đánh cháy và hư hại nặng. Phó đô đốc C.R.Brown có mặt tại hạm đội Mỹ ở Okinawa viết như sau :
 
"Thật là một cảnh tượng lạ kỳ, khi đứng trên tầu ta nh́n thấy một chiếc máy bay lao thẳng vào ta. Có những pháo thủ gan dạ, đầy kinh nghiệm nhưng khi thấy một Thần Phong lao vào tầu, tự nhiên miệng há hốc ra, tay quên xiết c̣ súng. Tựa như anh ta bị lôi cuốn bởi tṛ chơi quái ác kia. Thực t́nh mà nói, người đứng trên tầu, lúc ấy không nghĩ đến ḿnh nữa mà lại nghĩ lo cho anh chàng lái máy bay kia."
 
Cùng ngày hôm ấy, 5 chiếc máy bay hai động cơ từ Nhật bay đến, xuyên qua hệ thống pḥng không, len lỏi vào không phận sân bay Yontan giữa đảo Okinawa (lúc này đă nằm trong tay quân Mỹ). Bốn chiếc bị bắn rơi, một chiếc từ từ hạ cánh xuống đường bằng. Máy bay vừa dừng lại, cảm tử quân Nhật ùa ra chạy đến các băi đậu máy bay và các bồn chứa của Mỹ. Họ dùng bộc phá, lựu đạn, tiểu liên, phá hủy 7 máy bay Mỹ, làm hư hại 26 chiếc khác và đốt cháy 2 bồn chứa 70.000 gallon xăng máy bay.

 
Chế độ huấn luyện :
 
Những người t́nh nguyện hi sinh, bao gồm nhiều thành phần từ phi công chính quy, binh lính cho đến cả sinh viên được huấn luyện theo một chế độ đặc biệt trong ṿng 7 ngày: 2 ngày cho việc cất cánh với 1 quả bom 250 kg; 2 ngày cho việc bay theo đội h́nh và 3 ngày tập cách tiếp cận mục tiêu và tấn công.
 
Các phi công được cấp một bản hướng dẫn chi tiết về cách tiến hành tiến công cảm tử. Theo đó phi công phải bổ nhào nhắm vào giữa tháp chỉ huy và ống khói, v́ đó là cách hiệu quả nhất để đánh ch́m tàu. Phi công cũng được dặn không nên nhắm vào đài chỉ huy hay tháp pháo, mà nên nhắm vào cầu thang máy hoặc boong tàu. Nếu tiếp cận từ đường chân trời th́ phi công nên "nhắm vào thân tàu, cao hơn mặt nước biển một chút", hoặc "nhắm vào cửa khoang chứa máy bay hoặc chân ống khói".

 
Thời khắc ra đi măi măi
 
Vào buổi chiều trước ngày xuất phát, người chỉ huy trưởng căn cứ thông báo cho họ biết lệnh xuất phát vào ngày hôm sau và họ c̣n một đêm cuối cùng để viết một bức thư cuối cùng cho người thân trước khi ra đi măi măi vào hôm sau. Sáng sớm, sau buổi thuyết tŕnh ca ngợi sự hi sinh, họ có mặt trong bộ đồ phi công, đeo bên ḿnh thanh gươm của người vơ sĩ đạo, đầu quấn chiếc băng chéo thiêu nổi h́nh mặt trời mọc, quốc kỳ của Đế quốc Nhật Bản. Chỉ huy trưởng căn cứ trao cho mỗi người một ly rượu sake, tất cả nghiêng ḿnh về hướng cung điện để tỏ ḷng tôn kính Nhật hoàng trước khi leo lên máy bay trong sự hoan nghênh của những người c̣n lại.
 
Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Thiên hoàng Hiro Hito đọc tuyện bố đầu hàng vô điều kiện, một số người không chịu đựng được nỗi nhục thất trận đă mổ bụng tự sát theo tinh thần người Nhật. Hàng ngàn phi công trở về nhà bị lăng quên trong thời ḱ sau chiến tranh. Một số người cùng với những người khác xây dựng lại đất nước và khắc phục hậu quả chiến tranh, một số gia nhập Đảng Cộng sản Nhật Bản trong những năm 1946-1948, số khác bị khủng hoảng tinh thần và chỉ sau thập niên 1950, khi nền kinh tế Nhật Bản dần dần phục hồi đa phần trong số họ trở thành công nhân trong các hăng sản xuất lớn như: Sony, Honda, Denzu,… để quên đi quá khứ tuy đau thương nhưng không kém phần hào hùng.
 

 
Theo Day of the Kamikaze Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Hoa Đào Năm Ngoái C̣n Cười Gió Đông
Reply #122 - 03.01.2010 at 09:32:35
 
 
Tiệc vườn đào, anh hùng kết nghĩa  
Chém Khăn Vàng, hào kiệt lập công

 
 
Từ Chuyện Kết nghĩa Vườn Đào
 
 
Tại một số cơ sở phụng tự, tư gia, cửa hàng… ta thường thấy một ban thờ treo bức tranh vẽ vị tướng công oai dũng, râu dà́, mặt đỏ ngồi đọc binh thư, sau lưng có hai tùy tướng, hoặc bức tượng Ngài đứng mặc lục bào tay cầm thanh long đao, có khi phía trên thêm bốn chữ Trung Nghĩa Thiên Thu.  
 
Đây là tượng, tranh vẽ Đức Quan Thánh Đế Quân thời Tam Quốc. Ngài họ Quan, tên Vũ tự Vân Trường. Quan Vũ theo pḥ Lưu Huyền Đức (Lưu Bị), cùng Trương Dực Đức (Trương Phi) kết nghĩa anh em trong Vườn Đào thề cùng sống chết (đồng sinh đồng tử), quyết khôi phục Nhà Hán đang hồi suy vi. Lưu Quan Trương khởi nghiệp từ đại công phá giặc Hoàng Cân (Khăn Vàng), tung hoành trong thiên hạ mấy mươi năm, sau cùng dựng được cơ nghiệp nhà Thục Hán, trong thế Tam Phân (Tam Quốc) oai danh lẫy lừng. Riêng Quan Vũ, một trong Ngũ Hổ Tướng của Lưu Bị, được coi là thiên hạ vô địch, bách chiến bách thắng. Tuy vậy một lần Quan Vũ v́ thất thủ thành Hạ B́, bị quân Tào vây khốn trên Thổ Sơn. Tào Tháo do mến mộ tài đức chiêu hàng, lại cực kỳ hậu đăi để mua ḷng. Cứ ba ngày Tào đăi tiệc nhỏ, bẩy ngày tiệc lớn, lên ngựa tặng vàng, xuống ngựa tặng bạc (tam nhật tiểu yến, thất nhật đại yến, thượng mă đề kim, hạ mă đề ngân), xin Vua phong tước Hán Thọ Đ́nh Hầu nhưng Quan Vũ vẫn trước sau chờ dịp bỏ Tào t́m về với Lưu Bị.  
 
Trên mặt vơ công, Quan Vũ đă từng chém Hoa Hùng, mănh tướng của Đổng Trác khi chén rượu thưởng công rót chưa kịp nguội, rồi vung đao giết đại tướng Nhan Lương, Văn Sú của Viên Thiệu, rồi một ḿnh một ngựa “Tống tầu thiên lư tầm huynh”, qua năm ải, chém sáu tướng Tào (quá ngũ quan, trảm lục tướng), đánh Lă Bố, kịch chiến Mă Siêu ... Ông c̣n là bậc trí tướng, lầu thông kinh sử. Cuối đời Quan Vũ đạt tột đỉnh danh vọng được phong Kinh Vương, vua cơi Kinh Châu. Sau cùng, v́ cao ngạo, khinh địch, bị Lă Mông dụng mưu vây chặt trong Mạch Thành, quân ít, lương cạn, phải bỏ chạy đến Quyết Thạch, bị Quan Vũ tuy lầu thông kinh sử nhưng chưa đủ cơ duyên biết đến Phật Pháp, nên sau khi chết, hồn cứ lẩn quất trong cơi u minh, đi t́m Lă Mông trả thù.  
 
Một đêm kia, trên ngọn Ngọc Tuyền, Phổ Tĩnh Thiền Sư, người đồng hương đă một lần cứu mạng Quan Vũ trên đường qua sáu ải, đang tụng kinh bỗng nghe tiếng kêu lớn:  
 
“Lă Mông ! Lă Mông ! ngươi phải trả lại đầu ta !”.
 
Phổ Tĩnh ngước mắt nh́n thấy một viên tướng cỡi Xích Thố, tay cầm Thanh Long Uyển Nguyệt Đao, cùng hai tùy tướng cả ba sa xuống núi Ngọc Tuyền.  
 
Hồn Quan Vân Trường cất tiếng:  
“Bạch Ḥa Thượng đây là đâu và xin cho được biết Pháp danh?”
 
Phổ Tĩnh nói: “ Lăo tăng là Phổ Tĩnh, xưa kia ở ải Dịch Thủy đă gặp Quan Hầu, nay Ngài quên sao?”.  
 
Quan Công bạch Phổ Tĩnh:  
“Trước kia nhờ Ngài cứu mạng, vẫn ghi ơn, nay tôi đă thác (chết). Xin Ngài chỉ dạy cho tôi ra khỏi đường mê, đến được bến Giác.”
 
 Phổ Tĩnh thuyết:  
“ Xưa trái, nay phải, nhất thiết không bàn, nhưng Nhân trước Quả sau, Nhân nào Quả nấy. Nay Tướng Công vừa bị Lă Mông hại, đ̣i trả đầu, vậy xưa kia Nhan Lương, Văn Sú, sáu tướng trên năm cửa ải chưa kể biết bao tướng sĩ khác đă bị Tướng Công sát hại th́ họ đ̣i ai, Ngài có trả được đầu họ không?”  
Quan Công bỗng tỉnh ngộ, hồn mờ mờ rồi tan biến.  
 
 Phổ Tĩnh biết Quan Công vừa hiểu được lư Nhân Quả, đă Qui Y giác ngộ, rồi siêu thăng.  
 
 Từ đó về sau người đời tôn thờ Quan Vũ v́ đức Trung Nghĩa, tôn vinh Quan Thánh Đế nhang khói không bao giờ dứt. Người viết nhớ tới một ngôi đền thờ Ngài trong Chợ Lớn treo đôi liễn có thể nói hết oai dũng của Quan Công.  
 
 “ Sinh Bồ Châu, sự Dự Châu, chiến Từ Châu, thủ Kinh Châu vạn cổ Thân Châu hữu nhất”  
(Sinh tại Bồ Châu, phụng sự Dự Châu (Lưu Bị), chiến đấu ở Từ Châu, trấn giữ đất Kinh Châu, vạn đời Thân Châu chỉ  có một )  
 
“Huynh Huyền Đức, đệ Dực Đức, xá Bàng Đức, thích Mạnh Đức thiên thu thánh Đức vô song”  
(Anh là Huyền Đức (Lưu Bị), em là Dực Đức (Trương Phi), tha Bàng Đức, thả Mạnh Đức (Tào Tháo) ngàn năm thánh Đức không hai).  
 
Nhân đây cũng xin nói qua về danh tánh người xưa, nhưng giới hạn trong đời Hậu Hán (25-220) và Tam Quốc (220-265). Thời đó coi việc đặt tên đôi (kép) là xấu nên chỉ có tên đơn. Ví dụ: họ Lưu tên Bị, họ Tào tên Tháo, họ Quan tên Vũ… Những người có họ tên 3 chữ là do họ kép như họ Gia-Cát tên Lượng, họ Hạ-Hầu tên Đôn, họ Công-Tôn tên Toản…  Cũng thời này tục tránh dùng tên chánh (kỵ húy) bậc trên như Vua, Quan, Thầy, Ông Bà, Cha Mẹ rất gắt gao nên thường đặt thêm tên tự. “Nhập gia vấn húy” là vào nhà phải biết các tên húy ông bà, cha mẹ chủ nhà để tránh phạm tới. Có nhiều cách đặt tên tự, nhưng nói chung hễ nói đến tên tự sẽ suy ra tên chánh hay ngược lại “ vấn danh tất tri kỳ tự, vấn tự tất tri kỳ danh”. Gia-Cát Lượng tự là Khổng Minh v́ Lượng hay Minh đều là sáng; Quan Vũ tự Vân Trường v́ khi nói đến Vũ phải liên tưởng đến Vân; Triệu Vân tự Tử Long v́ Vân là mây hợp với Long là rồng, Chu Du tự Công Cẩn, Gia-Cát Cẩn tự là Tử Du v́ Du và Cẩn đều là tên lọai ngọc quí…    
 
Ngày Xuân, nhân nhắc lại một đoạn Vườn Đào Kết Nghĩa trong bối cảnh Tam Quốc (Ngụy Thục Ngô) để thấy rằng mọi sự rồi cũng không ngoài lư Nhân Quả, luật Vô Thường. Cuộc đời một bậc oai trấn cả một vùng Kinh, Tương khi chết đi cũng phải t́m về nương tựa nơi Chánh Pháp.  
 
Người viết xin tạm dừng v́ khởi viết tưởng chỉ ít ḍng kể chuyện Vườn Đào không ngờ lan man đến Quan Công ĺa trần, rồi quy y Tam Bảo, siêu sinh cơi Trời. Tiếp cả chuyện tên chánh, tên tự của người xưa. Bài tới, xin được viết riêng về tên gọi các bậc tu hành, tín đồ các tôn giáo khởi từ vị cao tăng đầu tiên tự thiêu cúng dường Tam Bảo trong biến cố 1963 có thế danh Lâm Văn Tuất (1897-1963), pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hành Pháp, pháp hiệu Quảng Đức dù biết rằng tất cả cũng chỉ là “Danh Sắc” đều “Sắc Sắc Không Không”.

                                                                                             
 Nguyễn Đ́nh Phúc
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Hoa Đào Năm Ngoái C̣n Cười Gió Đông
Reply #123 - 01.02.2010 at 16:41:43
 
   
 
     Năm Dần nói chuyện cọp trong nghệ thuật
 
 
Chỉ c̣n ít ngày nữa chúng ta sẽ bước qua một năm âm lịch mới, năm Canh Dần, năm con Cọp! Theo luật  tuần hoàn của Tạo hóa, Xuân, Hạ, Thu, Đông xoay vần: Trâu đi th́ Cọp đến.
 
Xưa nay cọp vẫn là một ác thú. Nó hung hăn nhất trong 12 con giáp. Nói về sự khôn ngoan, cọp không thể sánh với khỉ và chuột. Nói về sự kiên tŕ, sao cọp có thể sánh với trâu, nhanh không bằng ngựa, uy vũ sao sánh bằng Rồng, luồn lách và hiển độc không thể bằng rắn. Thế nhưng, trong 12 con thú, có lẽ cọp hội đủ các đặc chất: dũng mănh, can trường, hiên ngang, dám tấn công cả những con thú to khỏe hơn nó. Nhờ những đặc chất ấy mà cọp là một trong những loài trở thành biểu tượng của sự hùng cường và sức mạnh vô song, v́ thế nó được con người thần thánh hóa, không riêng ở nước ta mà cả nhiều nước khác cũng đưa cọp dự phần vào đời sống xă hội, văn hóa, và nghệ thuật.

 
TRONG VĂN CHƯƠNG
 
Rất nhiều tác phẩm văn chương, những truyện ngụ ngôn, nói về cọp, như truyện ngụ ngôn Cọp và Trí khôn Con người, Ngũ Hổ Tướng trong Tam Quốc Chí của La Quán Trung, tiểu thuyết Cọp Trắng, và đặc biệt trong bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ:  
 
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng buồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dơng dạc, đường hoàng.
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc,
Trong hang tối, mắt thần đă quắc,  
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta là chúa tể muôn loài,  
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan,
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,  
Ta lặng ngắm giang sơn đổi mới…

 
Ngôn ngữ trong thơ được dùng không cầu kỳ, không hoa mỹ, mà dung dị và táo tợn, ư tưởng chuyển biến nhịp nhàng nhưng dứt khoát, kết hợp nhuần nhị giữa Nỗi Nhớ và Rừng, tạo nên một con cọp độc đáo trong thi ca Việt Nam.

 
TRONG TRANH

H́nh tượng cọp có mặt trên các phù điêu bằng gỗ, đá, đồng, ở các đền đài, lăng miếu, trong ḍng tranh Đông Hồ của phố Hàng Trống từ xa xưa, nhất là trong các đồ thủ công mỹ nghệ. Tranh vẽ Cọp rất phong phú, đa dạng, không chỉ giới hạn ở nơi thờ tự, trong cung đ́nh, mà c̣n phổ biến ngoài dân gian.  
 
Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, cọp là con vật được tôn thờ từ lâu, tên của nó được thần hóa và được gọi là ‘Ngài, ‘Ông Ba Mươi,’ ‘Hổ.’ Nó được tạo dựng thành biểu tượng của sức mạnh của niềm tin. Tranh vẽ được biết đến nhiều nhất, qua nhiều thế hệ, là bức Ngũ Hổ của phố Hàng Trống, được vẽ trên giấy khổ 55 cm x 75 cm. Nó vẽ tả năm con cọp được bố cục cân đối trên không gian được định sẵn, mỗi con một dáng: con đứng, con ngồi, con lướt gió… Đây là loại tranh bản (khắc gỗ rồi in trên giấy). Nhưng cách thức của ḍng tranh Hàng Trống là chỉ in bảng nét rồi dùng cọ lông để tô màu. Trong quá tŕnh tô màu, các nghệ nhân vờn màu, tạo độ đậm nhạt, chuyển sắc sáng tối, âm dương, nên cọp trong tranh không c̣n là mảng bẹt như cách thể hiện của ḍng tranh đương thời. Với cách thức sáng tạo độc đáo ấy, các nghệ nhân Hàng Trống không chỉ tạo nét đặc thù của ḍng tranh riêng mà c̣n làm bật lên sức sống nội tại của tác phẩm. Người xem tranh rất dễ nhận ra điều này qua h́nh ảnh những con cọp: những khối thân chắc khỏe, dáng ngồi, thế đứng đường bệ, oai phong, đặc biệt là những cái đuôi như đang ve vẩy hoặc uốn cong lên trước khi đập xuống đất để phóng ḿnh lên. Độc đáo nhất phải kể đến đôi mắt cọp: hùng hực, ánh lên sức mạnh của loài chúa sơn lâm.  
 
Màu sắc trong bức Ngũ Hổ là một thế giới ḥa sắc, lộng lẫy, uy linh, nhưng vẫn ḥa hợp với năm màu: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen trên năm con cọp. Lối dùng màu này của các nghệ nhân thể hiện rơ một hàm ư và mang tính triết lư sâu xa của quan niệm dân gian truyền thống:
 
- Hoàng hổ: Cọp vàng, tượng trưng hành Thổ, ứng với trung ương chính điện.  
- Thanh hổ: Cọp xanh, tượng trưng hành Mộc, ứng với phương Đông.  
- Bạch hổ: Cọp trắng, tượng trưng hành Kim, ứng với phương Tây.
- Xích hổ: Cọp đỏ, tượng trưng hành Hỏa, ứng với phương Nam.  
- Hắc hổ: Cọp đen, tượng trưng hành Thủy, ứng với phương Bắc.

 
Tranh ngũ hổ
 
 
Hoàng hổ
 
 
Thanh hổ
 
 
Bạch hổ
 
 
Xích hổ  
 
 
Hắc hổ
 
Và như thế, 5 con cọp được vẽ bằng năm màu khác nhau tượng trưng ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Quan niệm tạo h́nh, cách phối màu, mang tính ước lệ trong nghệ thuật dân gian xưa là phổ biến, mà nếu gạt qua cái vỏ ngoài của sự mê tín, dị đoan, th́ đây là bức tranh có giá trị nghệ thuật cao.

 
TRONG TƯỢNG VÀ PHÙ ĐIÊU
 
Tượng và phù điêu cọp bằng đá đă có từ thời nhà Trần, Lê, nổi tiếng ở các chùa, lăng tẩm, như Chùa Đại Bi (Hoài Đức, Hà Tây), và đặc biệt là Cọp Đá ở Lăng Trần Thủ Độ, Vũ Thư, Thái B́nh. Đây là một tác phẩm điều khắc đẹp trong nền nghệ thuật cổ Việt Nam: Con cọp ở tư thế nằm, dáng vẻ ung dung, hai chân trước sải dài, hai chân sau thu gọn trong bụng, đầu ngẩng cao, đôi mắt lim dim, hai tai dỏng lên như đón nghe một tiếng động nào đó vọng về từ chốn xa xăm.
 
Khối đá không to như con cọp thực ngoài đời, nhưng nghệ thuật cổ đă khắc dựng một h́nh tượng có sức lay động t́nh cảm người xem. Đứng trước tác phẩm, trong khung cảnh của công tŕnh tưởng niệm người có công tạo dựng nhà Trần, giữ ǵn sơn hà, xă tắc trên mảnh đất quê hương Việt Nam, ta thấy bùng lên chất sử thi bi hùng. Người tạc tượng đă thổi hồn vào đá, ban cho nó một sức sống tinh thần của một thời liệt oanh, của một con người trí dũng, toàn tâm, toàn ư, v́ dân, v́ nước.
 
Cọp trong điêu khắc cổ Việt Nam thường là ‘cọp vồ mồi,’ ‘cọp ngắm trăng, ‘cọp và rồng,’ để diễn tả sức mạnh, ư chí, và khai thác chất thơ trong cái oai của chúa sơn lâm. Người ta không dùng ‘cương’ để biểu hiện sức mạnh, mà dùng ‘nhu’ để biểu hiện ‘chất hùng,’ ‘chất thép.’

 
VÀ TRONG NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI
 
Với sự tiến bộ như vũ băo của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, con người văn minh hơn, giàu có hơn, hưởng thụ nhiều hơn, và với sự ra đời của trường phái hậu hiện đại, bản thân cọp hầu như tuyệt chủng, v́ ô nhiễm môi trường, phá hủy rừng để lấy gỗ. Cọp chỉ c̣n thấy ở các bảo tàng viện, phim ảnh, sách vở, hoặc trong những bộ sưu tầm của các đại gia giàu có, dưới dạng da hổ, cao hổ cốt, v.v… Và có lẽ đó chính là h́nh ảnh của nghệ thuật hậu hiện đại, được triễn lăm, trưng bày một cách khéo léo ở các… cửa hàng!
 
Hiếu Lê
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Cọp trong Kư ức dân gian Nam Bộ
Reply #124 - 07.02.2010 at 06:45:13
 

 
Cọp trong Kư ức dân gian Nam Bộ
 
Nam Bộ là vùng đất mới của phương Nam có quá tŕnh h́nh thành và phát triển hơn 3 thế kỷ . Trải qua bao biến đổi thăng trầm của lịch sử, Nam Bộ hôm nay là vùng đất trù phú, nơi dung nạp nhiều dân cư khác nhau từ mọi miền đất nước đến đây lập nghiệp. Quả là "đất lành chim đậu”.
 
Ngày nay đến với đồng bằng Nam Bộ, ít người c̣n h́nh dung được cái thiên nhiên c̣n đầy vẻ hoang sơ của buổi đầu khai phá. Chính những câu truyện kể, truyền thuyết, các giai thoại c̣n tồn tại trong kư ức, các địa danh, ca dao dân ca mà các tài liệu địa chí đă ghi nhận được từ xa xưa truyền lại, giúp ta h́nh dung được khung cảnh thiên nhiên ấy.
 
Trong cái buổi ban đầu đi mở đất, một trong những lực lượng thiên nhiên hoang dă mà con người phải đối chọi, rùng rợn nhất là hổ (hùm, cọp). Với bộ mặt gân guốc, quai hàm mở rộng hoác hoạc, lưỡi thè lè đỏ ḷm, mắt tṛn to sắc lạnh, xảo quyệt, râu mép rung rinh thính nhạy, thân ḿnh vạm vỡ, nặng từ cả tạ đến vài tạ. Bốn bộ móng vuốt khoằm khoằm sắc lẻm chộp đâu trúng đó, con người và bất kỳ loài thú nào khi đối mặt với hổ là đồng nghĩa đối mặt với tử thần. Có một thời con người đành bó tay sợ hăi, bất lực trước sự hoành hành của hổ, phải gọi chúng bằng Ông, được đưa vào miếu thờ với sức mạnh chúa sơn lâm để canh giữ bảo vệ đ́nh miếu.
 
Nhưng con người, với đà ngày càng sinh sôi phát triển, đă đẩy lùi giang sơn của hổ đến tận những vùng hẻo lán. Tuy vậy, cho đến nay cọp vẫn c̣n bảo lưu trong kư ức của nhân dân địa phương, qua những câu chuyện kể, chuyện cổ tích (mà dân Nam bộ gọi là chuyện đời xưa), truyện cười, thần thoại, ngụ ngôn, trong tín ngưỡng dân gian... bắt nguồn từ hiện thực mà con người phải chứng kiến, đối mặt. Thái độ của con người đối với cọp chuyển biến từ sợ hăi, đến chiến đấu thắng cọp, rồi thuần dưỡng, rồi tôn thờ cọp vv... biểu hiện những trạng thái tâm lư phức tạp của người lưu dân mở đất.
 
Từ những tài liệu đă có và cũng từ những ghi nhận qua lời kể của người dân, bài viết này nhằm t́m hiểu về loài cọp ở Nam bộ dưới góc độ văn hóa.
 
Đồng Nai xứ sở lạ lùng,
Dưới sông cá lội, trên rừng cọp um

 
Cọp Gia Định:
 
Sách Đại Nam nhất thống chí ghi mùa xuân năm Canh Dần 1770 đời vua Duệ Tông có con mănh hổ vào nhà người ở phía nam chợ Tân Cảnh, hai nhà sư Hồng ân và Trí Năng đă diệt được cọp. . Trịnh Hoài Đức đă ví loài này ở đất Gia Định bằng những câu tục ngữ: “Dữ như cọp Vườn Trầu”. "Ác  như sấu Vũng Gấm ". Viết về “Vườn Phù Lâu” , ông cho biết “chỗ ấy c̣n nhiều rừng rậm, mănh hổ thường hay bắt người, nên có câu "dữ như cọp Vườn Trầu”.  
 
Đến cuối thế kỷ XIX, ấy thế mà số người chết v́ cọp vẫn c̣n đáng kể  : "... Cọp, sấu c̣n hoành hành ở vùng quê Bến Tre, G̣ Công, An Hóa vào khoảng 1900 - 1910, nào riêng ǵ vùng śnh lầy phía Cà Mau. Bên bờ Hậu Giang ngày nay, vùng Phong Điền nổi danh trù phú với vườn cam quưt - vào khoảng 1900 cọp vẫn c̣n tại đó”  
 
Năm 1909, tuần báo Nam kỳ địa phận dành để tuyên truyền phổ biến giáo lư đạo Thiên chúa mà c̣n đăng tải những tin tức về cọp như chuyện thời sự hàng ngày:
 
Vùng cầu An Hạ, 3 tháng có 12 người.
Vùng cầu Hóc Môn , trong một vài tuần có 4 người.
Vùng Thủ Dầu Một, trong vài tháng 8 người.
Măi đến sau năm 1930 mà cọp c̣n lảng vảng ở vùng Rạch Giá, Cà Mau, Bảy núi.
 
Cọp Tây Ninh
 
“Ngày xưa Tây Ninh toàn là rừng già... cho nên nó là giang sơn của cọp, voi, mang, mển... Thời ấy chúa sơn lâm hay bén mảng gần xóm đông dân cư để ŕnh bắt heo ḅ và cơng người về rừng xé xác... Năm 1947 - 1948 cọp loạn rừng. Tại xă Ninh Thanh – ấp Chánh, cọp đă ăn 3 mạng và mỗi đêm thường về ấp này bắt heo mang vô rừng ăn dần”
 
Cọp Vũng Tàu:
 
“Vùng Núi Lớn xă Thắng Nh́ gần chợ Bến Đá, có ngôi chùa gọi là Điện Bà do nhà sư họ Trương sáng lập. Bên cạnh Điện Bà năm 1949 c̣n dấu tích hai miệng hang lớn, theo lời của dân chúng kể lại, đó là hai cái hang ông thần Hổ ở tu ngày xưa. Họ kể rằng, vào thời kỳ này có hai vị chúa sơn lâm chiều chiều khi tới giờ công phu, thường đến ở ngoài ngồi nghe kinh, và chẳng bao giờ bắt gà vịt, phá khuấy dân ở quanh vùng, sau đó ở tu luôn tại hai cái hang ấy. Một ông tu tại đó cho tới chết, c̣n một ông bị người Pháp bắn nhầm khi đi kiếm ăn ngoài rừng. Trong chùa hay tin tới xin xác về chôn tại trong hang ông ở, lấy lại cái đầu phơi khô đem thờ trong chùa, sau bị đánh cắp mất. Ngôi chùa này trước có tên là Long Nhan điện”.
 
Một di tích của thời cọp lộng hành Vũng Tàu năm xưa là miếu thờ thần Hổ , về sau này Hội điện sửa sang và xây cất lớn lên thành Điện thờ Ngũ hành và Quan Thánh. “Con đường ṃn từ trên ngọn hải đăng đi xuống băi Thùy Vân ngày xưa dây leo chằng chịt, cây cối rậm rạp rất khó đi, được dân sở tại đặt tên là đường ṃn Ông Hổ”. (con đường từ núi Nhỏ xuống biển)
 
Cọp Bến Tre:
 
Trên dải cù lao An Hóa (nay là đất Châu thành, huyện B́nh Đại, tỉnh Bến Tre), măi đến năm 1902, địa phương chí tỉnh Mỹ Tho vẫn chép: “làng Tân Định... có rừng cọp, heo rừng, nai, chồn”, “làng B́nh Đại dă thú lớn rất nhiều”, “làng Thới Thuận lắm cọp, heo rừng”...
 
Viết về trấn Vĩnh Thanh của Nam Bộ xưa th́: “Xứ này có nhiều sấu và cọp dữ, nhưng dân cư đă quen thường, nên không sợ hăi, tuy người bé và đàn bà cầm dao cắt cỏ và đ̣n xóc cũng bắt được cọp”
 
Cọp Bạc Liêu - Cà Mau:
 
Người dân nơi đây c̣n nhớ
Cà Mau lúc trước thấy mà ghê!
Ai muốn làm ăn đến phải về.
Dưới nước đỉa lềnh, sấu lểnh nghểnh,
Trên bờ cọp rống, muỗi vo ve...

 
Ở Cà Mau c̣n tương truyền “Cọp Cà Mau hàu Đá Bạc”. Năm 1898, một quan chức của Pháp khi báo cáo về thị xă Cà Mau vẫn nói: “sau mấy rặng bần, rặng cau quanh chợ là vùng đất thấp, về đêm nghe rơ từng bầy nai gọi nhau và cọp rống vang dội từng chặp”.
 
“Cọp Cà Mau không dữ tợn như ở miệt núi cao, rừng rậm. Nhiều khi đi rừng ăn ong, đốn đuôn hay đốn lá, róc lạt hoặc đốn cây, nếu rủi gặp cọp th́ nạt lớn vài tiếng vang dội, cọp hoảng sợ cong đuôi chạy mất. Nhưng đôi khi đói quá cọp cũng vào tận xóm bắt heo và bắt người ăn thịt. Một lần bắt heo của thím Khiều, hai lần bắt cháu ông giáo Hậu và ông thân bác hương hào Gố. V́ vậy tại vùng Cà Mau, không ai dám gọi là “con” mà gọi “ông Thầy”, “ông Hổ”, hoặc “hia Cọp”, “khái”, hoặc “Hương quản”. Đ́nh nào, miếu nào cũng có thờ cọp, gọi là miếu ông Hổ. C̣n ngay trước sân đ́nh xây một miếng tường bề cao lối 2 thước, có đắp nổi h́nh con cọp to, vằn vện thấy rơ”. “... Cọp nhiều nhất ở Cái Bát, Trèm Trẹm và Năm Căn. Có người thuật lại rằng tại Cái bát, một chị v́ con khóc lúc ban đêm, dỗ không nín, bèn bồng lại sát vách lá, nơi có lỗ trống dưới chân giường, đưa chân ra ngoài lỗ vách rồi rủa “cọp mà bắt mày”. Rủi cho đứa bé, lúc ấy một con cọp ŕnh ở ngoài từ hồi nào, tḥ chân vô chụp đứa bé tha đi mất. Từ đó về sau, xóm này không ai dám rủa “cọp bắt mày” hay “cọp vật mày” nữa”.  Roll Eyes
 
Tại tỉnh Cà Mau, hầu hết đồng bào c̣n tương truyền câu truyện Bà mụ Trời làm một việc bất đắc dĩ mà cũng là một việc hy hữu, tức là hộ sanh cho cọp. Tương truyền tại Rạch Bàn, thuộc quận Cái Nước có một bà nhân đức tên là Trần thị Hoa, tục gọi là bà mụ Tư làm nghề hộ sanh. Thường lệ nơi đây hễ mặt trời lặn th́ ai ở nhà nấy, rồi cửa đóng then cài, v́ thú dữ nhiều quá nên họ sợ. Một bữa nọ v́ phải giúp một sản phụ khó sanh, nên bà mụ Tư về muộn. Chủ nhà phải mướn 4 người trai tráng đưa bà. Về gần tới nhà, bỗng nghe tiếng cọp hộc rất lớn làm mọi người hốt hoảng tay chân bủn rủn, có người ướt trong quần. Khi hoàn hồn bốn tráng đinh thấy mất bà mụ Tư, th́ quả quyết bà bị ông Thầy bắt ăn thịt. Sáng hôm sau đă thấy bà ở nhà. Th́ ra sau khi đỡ đẻ cho vợ cọp xong , cọp đực cơng bà mụ Tư về. Từ đó đến sau cọp luôn đến đền ơn bà  embarrassedĐồng bằng Nam Bộ thế kỷ thứ XVII – XVIII cọp nhiều vô kể. Chúng sinh sống nhan nhản ở miệt U Minh, ở các cánh rừng ngập mặn tại các cửa sông Tiền, sông Hậu, kể cả những nơi đă được khai hoang khá sớm như Sài g̣n, Mỹ Tho, Vĩnh Long... Dân gian khái quát nỗi kinh sợ của họ về vùng đất mới này như sau:
 
Cà Mau khỉ khọt trên cây,
Dưới sông cá lội, trên giồng cọp đua.
U Minh Rạch Giá thị quá sơn trường,
Dưới sông cá lội, trên rừng cọp đua.

 
Vị thế địa lư, điều kiện tự nhiên tạo ra tâm thế con người Nam Bộ phải luôn tự vượt lên, tự ḿnh phải giải quyết những khó khăn gay gắt cấp thiết đặt ra cho công cuộc định cư sinh sống trên vùng đất mới. Rừng rậm cọp beo và sông sâu sấu đỉa là ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn của những người di dân, nó tồn tại dai dẳng măi về sau này.
 
Chèo ghe sợ sấu cắn chưn,
Xuống sông sợ đĩa, lên rừng sợ ma.

 
Không c̣n con đường nào khác, để bám chân được vào vùng đất này, người dân Nam Bộ buổi đầu đă tốn biết bao công sức, trí tuệ và ḷng can đảm, dũng cảm khắc phục thiên nhiên và đối chọi với thú dữ. Chính đó là điều kiện tạo nên nghị lực đặc biệt của người Nam Bộ, như nhà văn Trần Hiếu Minh khi nói về người dân Nam Bộ đă khẳng định: “Đây là sơn thủy cùng tận rồi. Đến đây chỉ c̣n hai con đường, một là không đủ nghị lực sống nữa th́ đâm đầu xuống biển mà chết, hai là cố bám lại đấu tranh để mà sống. Con người đến đây là con người liều, ngang tàng nghĩa khí ” .
 
Có thể nói, trang sử thứ nhất của vùng Nam Bộ do người Việt, Chăm, Khmer, Hoa, cũng như Mạ, Mnông, Stiêng, Chơro viết nên bắt đầu từ những ngày đánh cọp để tồn tại. Thực tế lịch sử ấy là cơ sở hiện thực cho nguồn truyện dân gian về cọp ở Nam Bộ khởi nguồn cho mọi sáng tác dân gian của người Kinh cũng như người các dân tộc khác về cọp. Từ h́nh tượng cọp ngoài đời, cọp trở thành một h́nh tượng văn hóa, cọp xuất hiện trong quan niệm, cọp bảo lưu trong kư ức, cọp trong cách nh́n, cọp trong các thể loại truyện kể dân gian, truyện viết vv...
 
Cọp qua truyện kể
 
Truyện dân gian về cọp có nhiều hay ít tùy thuộc vào mật độ cư trú nhiều ít, tùy thuộc vào mức độ mà con người đối mặt với chúng. Những câu chuyện kể về cọp c̣n phản ánh những thái cực khác nhau trong tâm lư t́nh cảm của con người đối với loài này. Thái độ của người dân hồi đó đối với cọp cũng rất lạ. Với người lưu dân đi khai khẩn đất hoang lập làng ấp, phum sóc, cọp là một kẻ thù nguy hiểm đáng sợ, v́ thế để có được địa bàn sinh sống yên ổn để lao động sản xuất th́ họ phải đánh bại cọp, chinh phục cọp, thuần hóa cọp; nhưng mặt khác họ vừa sợ hăi lại vừa tôn kính cọp. Cả hai điều ấy ghi nhận một hiện thực phức tạp trong tâm lư con người mở đất, v́ thế trong những truyện dân gian về cọp phản ánh những xu hướng hiện thực hoặc thần thành hóa, nhân cách hóa cọp và cả những con người đánh cọp hoặc thuần hóa cọp.
 
Bến Tre là xứ sở nổi tiếng lắm cọp, nhiều sấu. Truyện kể về việc đánh cọp, diệt sấu đă đi vào truyền thuyết dân gian phổ biến với mức độ đậm đặc nhất so với các địa phương khác ở Nam Bộ. “Đến Bến Tre, từ vùng đất nhiễm mặn đến vùng nước ngọt, đâu đâu ta cũng có thể nghe kể chuyện về cọp, những giai thoại bắt cọp, diệt cọp đầy tính chất can trường và dũng cảm, những chuyện thuần hóa cọp để cưỡi đi chơi, đi ăn giỗ, từ chuyện Bà Mụ đỡ đẻ cho cọp đến chuyện “Nghĩa hổ” mang tính ngụ ngôn. Dù được người đời thêm thắt ít nhiều nhằm ly kỳ hóa sự việc, cái lơi của sự thật vẫn là: nơi đây đă có một thời không hiếm những loài thú dữ bốn chân... con người đă phải chống trả lại chúng vô cùng vất vả để tồn tại”
 
Truyện về hai anh em Bảy Giao, Chín Quỳ lưu truyền khắp vùng Cồn Tàu (Bến Tre) và cả Mỹ Tho, Vĩnh Long. Truyện kể: vùng Cồn Tàu (B́nh Đại) lúc c̣n hoang vu, là giang sơn của một vị hung thần rất thiêng, có hai bộ hạ là hổ và lợn trấn giữ, ai muốn khai phá phải nộp mạng người. Hai anh em Bảy Giao và Chín Quỳ nghe tin đó liền đến đây xin được phá rừng và hẹn ba năm sau sẽ nộp mạng, thần đồng ư. Đến kỳ hạn nộp mạng, hai anh em nhờ thợ rèn, rèn cho hai côn sắt to, rồi quyết tử với hai bộ hạ của hung thần. Hai anh em giao đấu khá vất vả, cuối cùng cũng hạ được đối thủ. Từ đó thần hết thiêng, không c̣n đ̣i nạp mạng và dân làng đă đổ xô tới lập nghiệp ở Cồn Tàu.
 
Truyện hai thầy tṛ nhà sư Hồng Aân và Trí Năng, sử chép rằng: vào giữa ngày tết năm 1771, cọp từ rừng Sác, có lẽ từ phía Cần Giuộc kéo về chợ Tân Kiểng trên đường vào Chợ Lớn, bà con cấp báo cho quân sĩ ở đồn Dinh. Lúc bấy giờ có hai thầy tṛ nhà sư rất giỏi vơ nghệ là sư Hồng Aân và Trí Năng xung phong dùng côn giết cọp. Mănh thú bị hạ, nhưng sư Hồng Ân cũng bị thương rồi chết.
 
-Trong nhiều truyện không những kể về việc đánh cọp mà c̣n thuần dưỡng được chúng, như truyện về Ông Yến ở Tân Hưng (Ba Tri, Bến Tre): đêm nọ có con cọp bạch tḥ đuôi vào chuồng gia súc, ông Yến ra xem, nắm được đuôi cọp. Sợ nắm không chặt, ông dùng răng cắn giữ chót đuôi phụ với hai tay. Bà Yến thấy vậy, xách mác chạy ra đâm chết cọp. Con cọp “xuất tướng tinh” nhập vào ông Yến, từ đó trở về sau ông Yến trở thành chúa cọp, tất cả cọp lớn nhỏ trong vùng đều phải vâng lời ông và chúng ngoan ngoăn chở ông đi chợ, đi ăn giỗ, đi cúng đ́nh... Khi ông chết, cọp tụ họp đến bên mộ kêu rống thảm thiết, rồi cào đất đắp mộ cho ông.
Thú vị hơn, dân gian Bến Tre c̣n lưu truyền câu chuyện về ông Vệ Thạnh có tài thuần dưỡng được cọp, thường cưỡi cọp đi ăn giỗ.
 
Truyện Bà Mụ Trời đỡ đẻ cho vợ cọp, được chúng trả ơn vv... Truyện “hổ có nghĩa” như thế này hầu như có ở khắp nước ta, như ở huyện Đông Triều là truyện bà đỡ Trần. Dân gian kể, hổ đực đền ơn cho bà cục bạc, về nhà cân được hơn 10 lạng. Truyện “hổ mắc xương” cũng được kể ở phía Bắc, người cứu hổ là một ông tiều phu ở huyện Lạng Giang, khi ông mất hổ vẫn mang de,â lợn đến cúng trước mồ.
 
C̣n có hàng loạt truyện nói dối, nói xạo nôm na như truyện Ông Ó ở Bến Tre và truyện Ba Phi ở Minh Hải. Ông Ó quê ở Bến Tre là một cây “nói xạo”, những “pha” phóng đại đến ngoa ngoắt hóm hỉnh về cọp như sau: một lần có con cọp từ rừng chạy ra ăn dừa, bị ông Ó bắt gặp. Ông bèn nắm lấy đuôi cọp, đá một cú song phi vào bụng nó, làm cho cọp ỉa văi ra... một loạt trái dừa. Nơi ấy về sau mọc lên một hàng dừa thẳng băng như kẻ chỉ. (Truyện Hàng dừa của Bà Huyện). Hay Ba Phi kể truyện Cọp xay lúa: “có một đêm tôi đang ngủ trên sàn gác, khoảng gà gáy hiệp ba bỗng nghe con heo tạ ngoài chuồng kêu éc éc... tôi liền vác cây mác thong dong phóng xuống rượt, đến sáng mới giựt lại được xác con heo vác về...
 
Ngoài những truyện kể về người đánh cọp - những bậc tiền hiền khai quốc, hậu hiền khai cơ, những người có công khai phá và bảo vệ thành quả lao động, bảo vệ cuộc sống nói chung - là những câu truyện kể về người thật việc thật có tính chất kư sự; c̣n dạng tồn tại nữa là những địa danh dân gian liên quan đến cọp.

 
 

 
Địa danh gắn với cọp
 
Dấu ấn cọp c̣n để lại qua nhiều địa danh, những địa danh này được h́nh thành trên cơ sở những sự kiện có thật ở địa phương, gắn bó hữu cơ với quá tŕnh khai khẩn đất đai và tạo lập làng xă.
 
- Tổng Aên Thịt ở vùng Cần Giờ, nơi cọp hay ăn thịt người, phải nói gọn lại v́ kiêng cử là An Thịt.
 
- Đ́a Cứt Cọp ở huyện Giồng Trôm, tương truyền ngày xưa ở đây có nhiều cọp, chúng tụ tập săn mồi, phóng uế bừa băi. Do vậy mà dân gian gọi đ́a này là Đ́a Cứt Cọp.
 
-Địa danh mang tên Đồn Cọp ở huyện Chợ Lách (Bến Tre), được kể như sau: nơi đây trước kia cọp thường về phá hoại, dân chúng thường tổ chức lấy thân cau làm rào vây cọp lại, rồi báo cho tỉnh mang súng về bắn chết. Do vậy mà nơi đây có tên này.
 
- Địa danh Mỏ Cày cũng được dân gian Bến Tre giải thích liên quan đến sự tích về cọp: ngày xưa ở đây có rất nhiều cọp, do đó khi đi làm, người dân phải mang theo mơ, để vừa cày vừa đánh mơ làm cho cọp sợ trốn không dám ra làm hại người. Do đó người ta gọi xứ này là Mỏ Cày (chữ mơ biến thành Mỏ). Ở Bến Tre c̣n có những địa danh như Giồng Ông Hổ, Giồng Rọ (một loại bẫy cọp), bưng Hai Hổ, miếu Ông Hổ...
 
- Ở Sa Đéc c̣n tên đất gọi là Hổ cứ .
 
-Băi Hoàng Dung (ở phía tây bắc hạ lưu sông Hậu), do ở đây có nhiều cọp nên dân gian cũng gọi nơi này là Hổ châu (cù lao Ông Hổ) (xă Mỹ Ḥa Hưng – thuộc thành phố Long Xuyên).
 
- Đồi Ngũ Hổ ở Hà Tiên, h́nh dạng như dáng cọp ngồi khum lưng cúi đầu, biểu tượng phong cách Hổ phục là vị thế " Tượng chầu hổ phục” - chỉ nơi có hệ thống pḥng thủ thiên nhiên kiên cố, chính là nơi cứ điểm trọng yếu.
 
Thờ cọp:
 
Ở Nam Bộ c̣n có dạng tồn tại khác về cọp là Miếu thờ Cọp.
Phần lớn các đ́nh làng ở Nam Bộ đều có miếu thờ, tượng thờ ông Hổ.
“Ở Long An cọp được thờ ở đ́nh làng như một vị thần, nhưng không phải với ư nghĩa siêu h́nh, cọp thờ ở Long An là biểu thị một sức mạnh thiên nhiên có thể hại người mà cũng có thể giúp người, cụ thể hóa thành con thú có vằn đen xưa kia sống quanh xóm làng”.
 
- Đ́nh làng Quới Sơn (Châu thành, Bến Tre) c̣n thờ cả cái sọ cọp.
 
- Miễu thờ Cọp Bạch (ở trại ruộng Phước Điền - xă Thới Sơn - huyện Tịnh Biên - An Giang) là một ngôi miếu thờ Sơn quân thường thấy ở đ́nh làng Nam Bộ. Tuy nhiên, việc thờ cọp bạch ở đây gắn liền với công đức của Phật thầy Tây An và ông Tăng chủ Bùi thiền sư (người được Phật Thầy Tây An giao cho coi sóc trại ruộng Thới Sơn - đất hương hỏa của chùa Tây An). Truyện kể: thuở đó vùng Thới Sơn là sơn địa hoang vu, trong vùng núi Két có rất nhiều cọp dữ. Một hôm Phật Thầy Tây An đi xa về thấy con cọp bạch bị ốm ngồi cú xụ gần bàn thông thiên, bèn gọi ông Tăng chủ ra xem bệnh. Tăng chủ xem qua biết cọp bị mắc xương ở cổ, ông bèn bảo cọp cúi đầu xuống và đấm vào cổ nó một cú đấm, cục xương vọt ra ngoài. Cọp bạch ngước mắt nh́n ông Tăng chủ tỏ ư biết ơn rồi rón rén bước chậm răi vào rừng. Cách vài hôm, cọp bạch cơng lại một con heo rừng đặt trước cửa để đền ơn ông Tăng chủ. Cũng từ đó, lũ cọp trong rừng không c̣n bén mảng tới phá quấy dân chúng ở đây nữa. Mỗi khi ông Tăng chủ vào rừng th́ lũ cọp đều bỏ chạy hoặc theo ông như chó nhà theo chủ đi rừng vậy. Về sau cọp bạch già chết, ông Tăng chủ và ông Đ́nh Tây cất một cái miễu nhỏ tại đ́nh làng gần chùa Thới Sơn để thờ, nay miễu vẫn c̣n, khói nhang không dứt .
 
- Đ́nh Ông Hổ (ở xóm 1, Cửa Lấp, xă Dương Tơ, huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) theo lời truyền khẩu, ở ḥn này có mấy ông Hổ thường bơi vượt biển qua đảo Phú Quốc để t́m mồi. Một hôm có một ông bơi qua biển, bị cá mập táp cụt mất một chân, nên ở luôn tại Phú Quốc, từ đó rất hiền lành, không bắt gia súc, gia cầm hay hại dân làng. Dân chúng cho rằng cọp đă tu, nên lập đ́nh để thờ .
 
- Dinh Ông “Ởû xă An Thạnh, huyện Bến Lức c̣n dấu tích việc bầu cọp làm Cả, đó là cái am nhỏ bằng lá mà người ta gọi là Dinh Ông nằm bên bờ con rạch tên là rạch Dinh”.
 
- Chùa Ông Ngộ (ở Cần Giuộc - Long An), thờ ông Tăng Ngộ là người có công diệt trừ cọp dữ vào những năm đầu đời Gia Long ở đất Gia Định.
 
Tất cả dạng truyện kể về cọp nêu trên đă cung cấp cho chúng ta những nhận thức về lịch sử của buổi ban đầu khai sơn phá thạch vùng đất Gia Định (gồm cả Nam Bộ) - công cuộc chinh phục thiên nhiên đầy gian lao nguy hiểm, cùng với phong tục tập quán của người dân trên vùng đất mới. Nhưng điều quan trọng hơn hết là nó đă giúp chúng ta hiểu được những bí ẩn trong t́nh cảm và tâm hồn của người dân ở đây; một mặt họ vừa sợ vừa kiêng nể cọp và phải thờ cọp làm “sơn quân chi thần” và mặt khác là phải đánh cọp để tự vệ, để bảo vệ cuộc sống. Rơ ràng, trong thực tế ở vùng đất mới, yêu cầu bảo vệ cuộc sống, phát triển sản xuất và mở rộng địa bàn lân - ấp - làng - xă là rất bức thiết; việc đánh cọp, giết sấu là việc to lớn của thời kỳ đó. Đó là những việc làm và những thành tích của tập thể mà nổi bật là những cá nhân xuất sắc đại biểu cho ḷng can đảm và ư chí chiến thắng của người dân Nam Bộ và nó trở thành những truyền thuyết phổ biến sâu rộng và bền bĩ trong kư ức người dân.
 
Bùi Ngọc Diệp
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re:12 con cọp ngồi nhai kẹo gừng ...
Reply #125 - 19.02.2010 at 16:11:30
 
Tranh 12 ông cọp trên thế giới
 
Sách Minh Tâm Bửu Giám có câu "Họa hổ họa b́ nan họa cốt - Tri nhân tri diện bất tri tâm" Vẽ hổ chẳng dễ, nhưng một trong những con vật được vẽ nhiều nhất từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim chính là hổ.  
 

La hán và hổ - tranh cổ Trung Hoa thế kỷ 16 - Ảnh: Minneapolis Institue of Arts
 
 

Hổ ngóng trăng - tranh Hokusai (Nhật)
 
Vẽ hổ nhiều nhất chắc chắn là người Trung Hoa, nhất là vẽ bạch hổ, một trong “tứ thần thú” (tứ tượng) của huyền thoại cổ đại Trung Quốc (ba thần thú kia là thanh long, huyền vũ và chu tước), canh giữ bốn phương đông - tây - nam - bắc, mỗi hướng là bảy cḥm sao, hợp thành “nhị thập bát tú” của càn khôn vũ trụ. Bạch hổ là đề tài quen thuộc của tranh thủy mặc Trung Quốc từ xa xưa cho tới ngày nay.
 
Tương tự, hổ trắng cũng là đối tượng trong tranh cổ Nhật Bản. Các tranh vẽ hổ thời kỳ Edo (1603-1868, trước thời Minh Trị) cho tới nay vẫn là những tuyệt tác nghệ thuật dù các họa sĩ Nhật thường chỉ sao chép h́nh dạng hổ từ tranh Trung Hoa bởi có rất ít hổ trong thiên nhiên xứ hoa anh đào, nói chi tới hổ trắng cực hiếm. Người ta kể rằng để vẽ hổ, Kishi Ganku (1756-1839), một trong những họa sĩ nổi tiếng nhất thời Edo, đă phải mượn một chiếc đầu hổ về xưởng vẽ của ḿnh trong khi Maruyama Okyo (1733-1795), một tài năng khác thời Edo, vẽ hổ từ một tấm da hổ!

 

 
Nhưng họa sĩ Nhật lừng danh nhất với những tranh vẽ hổ bất hủ là Katsushika Hokusai (1760-1849), người có ảnh hưởng rộng lớn đối với hội họa Nhật hiện đại cũng như với cả hội họa châu Âu, đặc biệt là với các bậc thầy khuynh hướng ấn tượng như Claude Monet và Auguste Renoir. Hokusai không vẽ hổ giống hệt như chúng trong thiên nhiên mà ông vẽ cái sức mạnh và sinh lực bên trong của con mănh thú, đồng thời tranh hổ của ông thấm đẫm chất thiền. Ngược lại với Hokusai, Nagasawa Rosetsu (1754-1799) là họa sĩ Nhật vẽ hổ hiện thực nhất: xem tranh hổ của ông, người ta có cảm giác con thú dữ sắp sửa chồm khỏi tác phẩm cho một cú săn mồi hủy diệt.
 

 
Hổ cũng được vẽ nhiều trong tranh tường ở các tự viện tại Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Sikkim và tại Tây Tạng (Trung Quốc). Trong truyền thuyết Ấn Độ giáo, nữ thần Durga được coi là một hóa thân của nữ thần Parvati, vợ của thần Shiva tối thượng. Bà được vẽ với tám tay và cưỡi hổ (hay sư tử). Bức tranh vẽ hổ gây sốc nhất tại Ấn Độ là của họa sĩ Muqbool Fida Husain, người được mệnh danh là "Picasso của xứ Ấn".

 
 
Tranh hổ Hàng Trống của Việt Nam
 
Tại Việt Nam, tranh thờ ngũ hổ của phường tranh Hàng Trống đă tồn tại hơn hai thế kỷ, trải qua nhiều thăng trầm, có lúc tưởng như mất hẳn một ḍng tranh dân gian độc đáo được khai sinh trên đất Thăng Long sắp ngh́n năm tuổi. Năm ông hổ trắng, đen, vàng, xanh, đỏ trấn giữ ngũ hành được các nghệ nhân khắc họa thần thái uy nghi, dáng vẻ oai phong, đường bệ cùng với những ḥa sắc nhuốm màu thần bí của tín ngưỡng dân gian. Có thể nói ở châu Á không xứ nào có mảng tranh thờ ngũ hổ độc đáo như vậy.
 

Gia đ́nh hổ - tranh cổ Hàn Quốc thế kỷ 18
 

Hổ Tasmania được vẽ trong hang động Ubirr (Úc)

Trong khi đó hổ trong tranh Salvador Dali (1904-1989) sống ở một cơi ngoài hiện thực, nơi không gian trương nở đến vô tận vô cùng c̣n thời gian th́ tan chảy, nhào trộn quá khứ vào hiện tại và tương lai, như bức tranh ông vẽ năm 1944 có cái tên dài nhằng Giấc mơ đến từ đường bay của một con ong xuyên qua quả lựu, một giây trước khi thức giấc

 

Giấc mơ đến từ đường bay của một con ong… - tranh sơn dầu của Salvador Dali (Tây Ban Nha)
 
Trước Dali và Rousseau mấy thế kỷ, Peter Paul Rubens (1577-1640) của xứ Flandre đă vẽ nhiều hổ trong tranh. Nhà khai sáng phong cách baroque hoa mỹ Rubens có những tác phẩm được giới quư tộc và các nhà sưu tập châu Âu thời ấy hết sức ưa chuộng. Ông vẽ không biết mệt và vẽ với mọi đề tài: tôn giáo, truyền thuyết, chân dung, phong cảnh..., kể cả các loài ác thú đang trong trận chiến sinh tử với con người. Bức Hổ, sư tử và báo săn mồi của Rubens là một báu vật của Bảo tàng Mỹ thuật Rennes (Pháp)
 

Hổ, sư tử và báo săn mồi - tranh sơn dầu của Peter Paul Rubens
 
Với hội họa hiện đại, những con hổ gây ấn tượng mạnh nhất trong tranh có lẽ thuộc về Henri Rousseau và Salvador Dali. Henri Rousseau (1844-1910) là một trường hợp kỳ lạ của hội họa châu Âu. Ông nhà đoan (thuế vụ) này chưa từng học vẽ, lại bảo rằng “chẳng có người thầy nào khác dạy tôi vẽ ngoài thiên nhiên” và hầu như chưa đi đâu khỏi xứ Laval của ông.
 
 
Hổ trong băo nhiệt đới - tranh sơn dầu của Henri Rousseau (Pháp) - Ảnh: National gallery, London
 
Theo TTONGUYỆT CẦM  
 
 
 
Quân vấn mưu sự quái tâm hoài ! Cheesy
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Hoa Đào Năm Ngoái C̣n Cười Gió Đông
Reply #126 - 21.02.2010 at 17:13:51
 

 
Hổ Quyền là một kiến trúc đặc sắc trong quần thể di tích cố đô Huế, độc đáo và duy nhất ở Việt Nam, thậm chí là cả châu Á.
 
Lịch sử đă ghi nhận, dưới thời Nguyễn, ở Huế, những cuộc đấu giữa voi và hổ thường được triều đ́nh tổ chức, trước là nhằm rèn luyện tính dũng cảm và kỹ năng chiến đấu cho voi chiến - một lực lượng quan trọng trong hệ thống tổ chức quân sự (tượng binh); sau là để giải trí cho Vua, quan và các tầng lớp quư tộc cũng như dân chúng.  
 
Trước khi có Hổ Quyền, các cuộc đấu của voi và hổ thường được tổ chức trên các băi đất trống trước kinh thành, bên bờ sông Hương hoặc ở đảo (cồn) Dă Viên trên sông Hương. Tuy nhiên các cuộc đấu ở địa h́nh tự nhiên này đều không đảm bảo an toàn. Năm 1829, trong một cuộc đấu ở bờ Bắc sông Hương, hổ dữ đă ra khỏi khu vực đấu và tấn công vua Minh Mạng. Tuy được quan quân ứng cứu kịp thời; nhưng nhà vua nhận thấy không thể tiếp tục tổ chức các cuộc đấu theo cách cũ. Đúng vào năm Canh Dần (1830), vua Minh Mạng cho xây dựng Hổ Quyền - một trường đấu riêng cho voi và hổ.
 
 
Khối kiến trúc nhô ra khỏi tường thành, nằm bên trái cổng là khu vực khán đài danh dự dành cho Vua và Hoàng tộc
 
 
Hổ Quyền nằm ở bờ Nam sông Hương, thuộc thôn Trường Đá, xă Thuỷ Biều, thành phố Huế. Đây là một kiến trúc lộ thiên, không có mái che; được xây bằng gạch theo lối kiến trúc thành quách. Mặt bằng công tŕnh có h́nh vành khăn, bao gồm hai lớp tường trong và ngoài, ở giữa hai lớp tường là đất đầm chặt. Chiều cao lớp tường trong là 5,9m, lớp tường ngoài là 4.75m. Lớp tường ngoài nghiêng 1 góc 10 độ theo phương đứng tạo thành thế chân đế vững chắc. Chu vi ṿng tường ngoài của Hổ Quyền là 140m, đường kính trong sân đấu trường là 44m. Cổng chính của Hổ Quyền là lối vào cho Voi, rộng gần 2m, cao 4m; được xây cuốn ṿm xuyên qua hai lớp tường thành. Ở hai bên cổng có hai lối lên mặt thành (khán đài). Bên phải là lối lên của quan lại, binh lính và dân thường; bên trái là lối lên khán đài danh dự của nhà Vua, hoàng tộc và quốc thích đại thần. Khán đài danh dự này là một khối kiến trúc vuông vức lồi ra khỏi ṿng thành ngoài, cao hơn khán đài thường, quay mặt hướng Đông Nam. Phía sau khán đài (mặt trước Hổ Quyền) có một tấm biển bằng đá gắn trên tường thành có ghi chữ Hán: “Hổ Quyền”. Khán đài này cũng không có mái che, chỉ dựng mái tạm và sử dụng ô, lọng khi Vua ngự.
 
Đối diện cổng vào cho Voi, phía bên kia là 5 chuồng cọp (hổ) thông với sân đấu. Những chuồng cọp này được lợi dụng bởi khoảng trống giữa hai ṿng thành. Hai phía trong ngoài chuồng cọp có hệ thống cửa sập từ trên xuống để nhốt/ thả hổ ra sân đấu.
 
 
Một cửa chuồng hổ nh́n sang cổng voi qua đấu trường
 
 
 
Trong các cuộc đấu, Voi luôn được coi là đại diện cho nhà Vua, cho sức mạnh triều đ́nh; c̣n Hổ đại diện cho cái xấu và các thế lực chống đối. Voi được tạo điều kiện tốt nhất, c̣n hổ bị bỏ đói, bẻ nanh vuốt để làm giảm sức mạnh. Tất nhiên phần thắng luôn thuộc về voi, nhưng cũng nhiều lần hổ đă gây thiệt hại đáng kể, như việc có lần quật ngă và giết chết quản tượng. Trận đấu cuối cùng được ghi nhận diễn ra năm 1904, dưới thời vua Thành Thái. Sau đó v́ các điều kiện kinh tế, chính trị và nhiều lư do khác, các trận đấu không được tổ chức nữa. Hổ Quyền trở nên hoang phế hơn một thế kỷ, cho tới ngày hôm nay.
 
Dẫu vậy, thời gian, thiên nhiên khắc nghiệt và cả chiến tranh không làm Hổ Quyền bị phá huỷ nhiều như các kiến trúc khác ở Huế. Hiện trạng Hổ Quyền được đánh giá là tương đối nguyên vẹn, chỉ hư hại một số hạng mục nhỏ hoàn toàn có khả năng, có tư liệu phục hồi như cửa, lan can, các chi tiết trang trí… Công tŕnh đặc biệt thuộc loại h́nh di tích quư hiếm của Quốc gia hiện đă được lập dự án trùng tu và được khởi động vào tháng 2/2009. Nằm kế bên (cách khoảng 400m) và có quan hệ mật thiết với Hổ quyền là Điện Voi Ré (Long Châu Miếu), là nơi thờ những con Voi có công với nhà Nguyễn, là di tích gắn liền với đội Kinh Tượng triều đ́nh.
 
Cùng với việc trùng tu Hổ Quyền và điện Voi Ré, một phần khá quan trọng trong dự án là tái tạo những trận thư hùng giữa Voi và Hổ… bằng công nghệ 3D. Đây chắc chắn sẽ là một điều thú vị và hấp dẫn cho du khách tới thăm Hổ Quyền vào năm con Hổ

 
 
Đội Kinh Tượng của Nhà Nguyễn trong Hổ Quyền
 
Theo sử sách thì đấu hổ là trận kịch chiến giữa voi và hổ do triều đình tổ chức cho vua , hoàng tộc, các quan lại và thần dân xem nhân những ngày lễ lớn như Tết Nguyên Đán hay Đại khánh thọ Vua để tôn vinh sức mạnh vương triều. Thực chất xem trận đấu giữa voi và hổ là xem voi giết hổ, vì theo quan điểm của các vua chúa Nguyễn voi tượng trưng cho sức mạnh đế chế, cho lẽ phải , lẽ thiện. Vua cưỡi voi lên tế Đàn Nam Giao, Nguyễn Huệ Quang Trung cưỡi voi ra Bắc đại phá quân Thanh... Còn hổ tượng trưng cho cái ác , cho lực lượng đối địch. Nên trong sâu xa, tổ chức một cuộc tử chiến giữa voi và hổ là triều đình có ngầm ý răn dạy về sức mạnh vương quyền, bài học về cái thiện thắng cái ác.
 
 
Cửa voi vào và đường lên khán đài
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: HỔ QUYỀN TRIỀU NGUYỄN
Reply #127 - 21.02.2010 at 17:23:15
 

 
 
Đấu hổ đã có ở Phú Xuân từ thời các chúa Nguyễn ( 1558 - 1575), kéo dài đến đầu thế kỷ 20. Trận đấu hổ -voi cuối cùng được tổ chức dưới thời vua Thành Thái ( 1904). Còn Hổ Quyền ( trường đấu hổ) được xây dựng vào năm Canh Dần ( 1830) theo lệnh vua Minh Mạng. Hổ Quyền được xây dựng ở đồi Long Thọ ở Tây Nam Kinh thành Huế cạnh Điện Voi Ré ( Long Châu Miếu) , là điện thờ và ghi công trạng các con voi chiến dưới thời Gia Long.
 
Vị trí hiện nay ở thôn Trường Đá, xã Thủy Biều, cạnh đường Bùi Thị Xuân, Huế . Bia đá khắc gắn ở bên ngoài tường thành Hổ Quyền còn ghi câu chữ Hán nội dung là :" Xây dựng vào ngày tốt, tháng giêng năm Minh Mạng thứ 11" ( tức tháng 2.1830). Hổ Quyền được sửa chữa và xây cao thêm dưới thời vua Thành Thái. Đến nay di tích Hổ Quyền vẫn tồn tại như kiến trúc ban đầu.
 
Theo nhà Huế học Phan Thuận An thì các trận đấu giữa voi và hổ trước khi chưa xây dựng Hổ Quyền thường diễn ra ở Cồn Dã Viên ( đảo ở phía bờ nam theo đường tàu hỏa qua Sông Hương, nơi có tháp nước hiện nay) hoặc trên khoảnh đất bên bờ sông Hương trước Kinh Thành. Một người Pháp đã thuật lại trong một bài viết của mình là vào năm 1750, chúa Nguyễn Phúc Khoát và các quan trong triều đã đi trên 12 chiếc thuyền, đến đậu gần cồn Dã Viên để xem đấu hổ. Trong trận đấu kéo dài cả ngày này 40 con voi chiến của Triều đình đã giết chết 18 con cọp dữ ! .
 

Các chuồng hổ (5 chuồng) nh́n từ trên khán đài
 
Một người Pháp khác tên là Michel Đức Chaigneau trong hồi ký của mình cũng thuật lại chuyện đấu hổ ở Huế , nhưng vào thời Gia Long ( 1802-1819). Trận đấu diễn ra trên khoảnh đất bên bờ sông Hương trước Kinh thành. Triều đình bắt lính cầm khí giới đứng thành vòng tròn làm hàng rào đấu trường. Con cọp hôm đó đã bị bẻ răng nanh và buộc dây vào cột rất chặt. Nhưng khi thấy voi xông vào nó chồm lên hung dữ làm sợi dây đứt tung. Hổ tát cho nài voi rơi xuống đất. Ông nài liền bị voi lúng túng dẫm chết. Con cọp làm cho nhiều lính làm hàng rào bị thương. Vua tôi đang xem trận đấu bị một phen thất kinh hồn vía.

 

Điện Voi Ré (Long Châu miếu), nơi thờ những con voi có công với nhà Nguyễn, là di tích gắn liền với đội Kinh tượng của triều đ́nh và là kiến trúc quan hệ mật thiết với Hổ quyền
 
Trận đấu hổ năm 1829 rất nguy hiểm cho tính mạng của vua Minh Mạng Hôm đó là Lễ Tứ tuần Đại Khánh nhà vua. Trận đấu voi-cọp tổ chức bên bờ sông Hương trước Kinh thành. Nhà vua ngự xem trên chiếc thuyền Rồng đậu sát bờ. Con cọp cũng đã được "thắt dây bảo hiểm" ( tức buộc dây vào cọc ) . Vào trận quyết chiến, mănh hổ đã giật tung sợi dây trói lao xuống sông Hương và bơi như tên bắn về phía thuyền Vua ngự. Quan quân vệ binh hốt hoảng, mặt cắt không còn hột máu. Vua Minh Mạng lúc đó không có vũ khí trong tay, liền vớ vội cây sào chống trả và đẩy lùi con thú dữ . Sau trận đấu hổ thất kinh đó, nhà vua mới xuống chiếu xây dựng Hổ Quyền vào năm sau ( 1830).
 
Hổ Quyền là một đấu trường lộ thiên vòng tròn gồm hai lớp tường. Tường trong cao 5,9 mét, dày ở đáy là 1,1 mét, đỉnh là 0,5 mét. tường ngoài cao 4,75 mét xây bằng gạch vồ, đá Thanh, vôi vữa. Giữa 2 lớp tường là lớp đất dày 4 mét ở đỉnh . Chu vi vòng ngoài Hổ Quyền 140 mét, đường kính lòng chảo 44 mét. Trong lớp tường đất ở phía Bắc Hổ Quyền có 5 ô chuồng cọp có cửa sắt thông với đấu trường. Khán đài vua ngồi quay về hướng nam. Chênh về phía Tây là cửa voi vào. Khi đấu người ta dắt hổ đã bị bẻ răng nanh vào sân, trị trói vào cột và cho voi vào. Trận đấu diễn ra cho đến khi voi giết được hổ thì kết thúc.

 
 
Trên mặt tường thành, dưới lan can có những đầu thoát nước của hệ thống thoát nước với hoa văn h́nh mặt hổ
 
Trong ngày thi đấu, dân chúng và hương chức quanh vùng đặt hương án, lễ vật trên đoạn đường vua đi qua. Đấu trường được trang trí bởi nghi trượng, cờ, lọng. Có một đội lính mặc áo đỏ đội nón sơn, cầm khí giới nghiêm trang cung kính đứng hai bên đường từ đấu trường đến bến sông.
Đúng giờ Ngọ, vua ngự thuyền rồng từ Nghênh Lương Đ́nh, dọc theo sông Hương để lên bến Long Thọ. Vua lên kiệu che bốn lọng và bốn tàn vàng, đi trước là Ngự lâm quân, Thị vệ cầm cờ Tam tài, cờ Ngũ hành, cờ Nhị thập bát tú, gươm tuốt trần; tiếp theo là đội nhạc cung đ́nh . Trận đấu cuối cùng được ghi nhận dưới triều Nguyễn, do vua Nguyễn là người tổ chức, cũng là người điều khiển, vừa là khán giả rất nhiệt t́nh cổ vũ cho trận đấu được tổ chức vào năm 1904 dưới triều vua Thành Thái.

 

 
Theo VOV.VN
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Kata
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 620
Năm canh dần và hổ
Reply #128 - 21.02.2010 at 23:51:26
 
Những h́nh ảnh anh Badmonk post kèm tư liệu như những thông tin bổ ích rất hay.Tiếp theo anh Badmonk về hổ.
 
 
Từ 10 năm nay, ngôi chùa Pa Luang Ta Bua, hay c̣n gọi chùa Cọp (tỉnh Kanasampanno, miền Tây Thái Lan) thu hút rất đông du khách từ khắp nơi trên thế giới bởi 34 chú cọp hiền lành trong khuôn viên chùa.
Chuyện được bắt đầu vào năm 1999, khi một chú cọp con bị bỏ rơi được các vị sư ở đây nhận nuôi. Từ đó, nhiều thợ săn trong vùng đă mang cọp con tới chùa sau khi mẹ của chúng bị họ bắn hạ. Số lượng cọp nuôi trong chùa cứ thế tăng dần theo thời gian khiến ngôi chùa trở thành một điểm đặc biệt thu hút du khách. Hiện chùa Cọp là một trong số ít nơi trên thế giới cho phép khách du lịch trực tiếp đến gần, quay phim, chụp h́nh lưu niệm với cọp. Những chú cọp ở đây thường nằm im hiền lành ở sàn nhà, mặc cho khách vuốt ve hay chụp ảnh.Các chú cọp này được nuôi bằng thịt nấu chín để tránh cho chúng không tiếp xúc với mùi máu tanh và thói quen ăn thịt sống. Dù vẫn có nhiều ư kiến hoài nghi về sự hiền lành của những chú cọp nhưng đến nay người ta vẫn chưa t́m ra bất cứ một bằng chứng nào chứng tỏ chúng bị tiêm thuốc mê hay bị cho uống bất cứ loại thuốc nào khiến tinh thần suy giảm, không thể bộc lộ bản chất hoang dă. Với những chú cọp con sinh ra tại chùa, các sư sẽ tách chúng khỏi mẹ, cho sống với con người ngay khi mới được 21 ngày tuổi. Bầy cọp thường được nhốt trong các lồng sắt; hàng ngày, vào những buổi chiều, chúng được thả ra dạo chơi bên một hồ nước gần đó.Cho đến nay, chưa có bất cứ trường hợp du khách hay vị sư nào bị các chú cọp này tấn công. Những chú cọp ở đây thân thiện đến nỗi người ta có cảm giác chúng chỉ là những con mèo to lớn mà thôi. Lũ cọp cũng giữ chân nhiều du khách ở lại chùa. Cô Steinhardt, một du khách người Nga, sau khi đến thăm chùa đă t́nh nguyện ở lại chăm sóc lũ cọp suốt 7 năm qua. Robyn Shelby, một sinh viên ngành luật ở California, cũng đă ở lại chùa trong 7 tháng để phụ giúp các sư chăm sóc đàn cọp…Một số ư kiến phản đối lo ngại môi trường nuôi dưỡng cọp tại ngôi chùa này có thể khiến giống cọp tại đây bị lai tạp. Tuy nhiên đó là chuyện của các nhà khoa học, c̣n với người dân địa phương và du khách th́ ngôi chùa này chính là môi trường tốt cho những chú cọp sinh trưởng và tồn tại ḥa b́nh trong xă hội con người, nhất là thoát khỏi sự nguy hiểm đến từ nạn săn trộm.Trao đổi với phóng viên ABC News, sư trụ tŕ Pra-Acharn Phusit nói: “Phật giáo luôn tin vào sự tái sinh, v́ thế, tôi cho rằng những chú cọp này kiếp trước từng là họ hàng của tôi, của các sư khác trong chùa. Tôi nghĩ loài vật cũng có những đặc điểm giống như con người. Chúng cũng biết vui, biết buồn, biết tức giận, biết mệt mỏi… Bằng t́nh thương của ḿnh, chúng tôi đă cảm hoá được chúng.”
 
 
 
Back to top
 

ho.jpg
View Profile   IP Logged
Kata
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 620
Năm canh dần và hổ
Reply #129 - 21.02.2010 at 23:58:11
 
Năm Canh Dần bớt sát sanh săn bắn hại cọp.
 
Từ thông tin phát hiện xác cọp ướp lạnh cùng những huyền thoại về cao hổ cốt được rao bán với giá trên trời, trong vai một đại gia đă thâm nhập vào đường dây mua bán cọp. Gần một tháng trời lặn lội trên những ngóc ngách khu vực biên giới Tây Ninh, phát hiện không chỉ một mà có ít nhất năm đường dây mua bán cọp.Qua một "đại gia" có sở thích dùng hàng "độc" để ngâm rượu, liên lạc với Long, "nhà cung cấp" tay gấu, nhung hươu rừng, cao hổ cốt. Sắm vai là thư kư giám đốc một doanh nghiệp lớn cần mua cho sếp một con cọp sống để nấu cao, hẹn gặp Long.Đúng hẹn, đến quán bánh canh ở ngă ba Tràng Bàng (Tây Ninh). Dù biết là bạn của khách hàng sộp, Long vẫn thận trọng hỏi xin tấm danh thiếp. Sau một hồi xem xét tấm danh thiếp giả đă chuẩn bị từ trước, Long hẹn hai hôm sau sẽ đưa tôi đi gặp người cung cấp cọp từ Campuchia sang.Đến hẹn, Long dong xe về hướng núi Bà Đen. Qua khỏi cổng vào khu du lịch hồ Dầu Tiếng, Long dừng lại trước một quán nhỏ, đưa ch́a khoá xe của anh ta cho chủ quán. Sau đó, cả hai xuống đ̣ qua xă Tân Thành thuộc huyện Tân Châu (Tây Ninh), cách biên giới Campuchia chừng 30 cây số, Long ghé vào một quán nước. Tại quán đă có một người đàn ông lái xe chờ sẵn đưa khách hàng đến quán nước khác cạnh ngă ba Suối Ngô (huyện Tân Châu, Tây Ninh).Tại đây, Long giới thiệu với Keo Thây, người cung cấp cọp và Kim Kiry, người chuyên săn cọp. Ngoài ra c̣n có ông Sầm Bót, người có khả năng đặc biệt chuyên "đánh hơi" những khu rừng có cọp.Keo Thây đậm người, bề ngoài khá phúc hậu, sống ở tỉnh Svay Riêng, giáp biên giới Tây Ninh. Anh ta nói tiếng Việt chậm nhưng khá rơ: "Long nói ông cần khla (cọp, tiếng Campuchia) mà mấy con? Sống hay chết?". Đẩy đưa: "Ḿnh với vài ông bạn định mua một con nấu cao biếu sếp và chia nhau xài". "Mấy "ông" cũng có, thằng Kiry sẽ lo".Dừng một lúc, Keo Thây gợi ư: "Nấu cao ông có "xài" xương không? Xương dễ chở, giá cũng được mà có sẵn". "Cái này tôi phải hỏi lại mấy ông bạn. Xương th́ giá bao nhiêu, mà có chắc là xương thiệt không?", khách cố tỏ ra phân vân . Keo Thây nh́n thẳng: "Bảo đảm xương thiệt, có đủ bộ hẳn hoi. Tôi xếp thành bộ cho xem". Nói xong , Keo Thây quay sang Kim Kiry tuôn ra một tràng tiếng Campuchia. Kim Kiry nổ máy xe chạy đi.Một lúc sau, Kim Kiry trở lại, lôi trong ba lô "quân đội" ra ba khúc xương cọp Keo Thây chỉ cho tôi xem đặc điểm xương chân trước cọp có ṿng xoắn, đầu xương chân sau có điểm khuyết h́nh trái tim, đầu trong xương sườn bẹt ra như hai lá cây chụm cuốn vào đầu xương và vết xoắn giữa xương sườn.Anh ta giải thích: "Xương sườn thú rừng xếp xuôi nhưng cọp th́ xương sườn ngang nên đầu xương sườn bẹt ra gắn gần như vuông vào xương sống". Keo Thây nói: "Đây là xương đă sấy khô. Nếu giao tại đây th́ 2.000 USD/kg, giao ở Dương Minh Châu hay Tràng Bàng th́ 2.200 USD. Không mắc đâu. Cọp 100 kg lấy được 17 kg xương, sấy khô mất bốn phần, c̣n hơn 10 kg".Hỏi về giá cọp sống, Keo Thây nói chắc như đinh đóng cột: "Cọp dưới 50 kg th́ ba triệu đồng Việt Nam 1 kg, trên 50 kg th́ 3,5 triệu đồng, giao tại Tây Ninh, chỗ nào do anh chọn, cân rồi tính tiền. Keo Thây khoe ba ngày nữa sẽ đưa qua Tây Ninh một "ông" cọp 69 kg. Thây nhấn mạnh chữ "ông" một cách trân trọng.Khi ngỏ ư muốn xem "ông ba mươi" mà Thây vừa nói, anh ta từ chối nhưng lại nói: "Bốn ngày nữa tôi cho người đem tới anh ảnh "ông" cọp này. Nếu anh chịu, tôi sẽ giao cho anh luôn. Tôi t́m "ông" khác cho khách của tôi".Sau một hồi c̣ kè th́ mức giá được chốt lại là 2,9 triệu đồng/kg, giao tại Tràng Bàng, địa điểm hai bên sẽ báo nhau sau. Long sẽ được huê hồng 15% số tiền mà tôi trả cho Keo Thây. Khi chia tay, Thây nói thêm: "Long sẽ chịu trách nhiệm. Cân xong anh mới phải trả tiền. Không cần đặt tiền trước".Bốn ngày sau, quả nhiên Keo Thây điện thoại hẹn tại Tây Ninh và cho người giao cho xem những bức ảnh chụp "ông khla" 69 kg vừa từ Campuchia chuyển sang. Kiếm cớ chê "ông khla" này c̣n nhỏ so với yêu cầu, Keo Thây hứa sẽ t́m "ông khla" khác.Qua Long, tiếp xúc với khá nhiều đường dây mua bán thú rừng ở Tây Ninh, đầu mối nào cũng có mối bán cọp từ Campuchia. Có điều một số đầu mối không đủ tiền và không thường xuyên có khách hàng "mua đứt bán đoạn". Có ít nhất năm đường dây có đủ vốn, đủ hàng. Những đầu mối này hoạt động độc lập nhưng hỗ trợ nhau rất hiệu quả.Khi có khách hàng, các đầu mối điện thoại cho nhau. Từ Tây Ninh, các nhóm mua bán đặt hàng với các thợ săn người Campuchia ở tỉnh Svay Riêng hoặc Kom Bông Chàm (hai tỉnh Campuchia giáp Việt Nam). Từ đây điện thoại lại được nối đến tận tỉnh biên giới U đôn Miên Chay (của Campuchia giáp Thái Lan), hoặc tỉnh Mon Đun Kiry (giáp với Lào). Đây là hai vùng c̣n nhiều rừng rậm có khá nhiều cọp. Sau đó người có khả năng "đánh hơi" những khu rừng có cọp như Sầm Bót, những người chuyên bắt cọp như Kim Kiry cùng xuất phát mở những cuộc săn.Khi phía Campuchia có "hàng" cũng sẽ thông báo cho các đường dây tiêu thụ ở Tây Ninh để t́m khách hàng. Người t́m được khách được hưởng 15% giá mua, người bán được hàng được hưởng 15% giá bán của các thợ săn Campuchia. Cứ như vậy, họ bọc lót, giữ bí mật cho nhau, địa điểm giao hàng và chuyển hàng thay đổi linh hoạt với mắt xích kẻ làm "tiền trạm", người "giữ điểm", kẻ làm liên lạc một cách an toàn.Và chỉ sau một đêm, những "chúa sơn lâm" từng hùng cứ một vùng bị sụp bẫy hoặc bị trúng đạn từ bên kia biên giới sẽ được ướp đá trong thùng nhựa, vượt hàng trăm cây số đưa về Dương Minh Châu, Tràng Bàng.
 
                                                                                              Theo Pháp Luật TP HCM
Back to top
 

san_hai_cop.jpg
View Profile   IP Logged
Taiso
Đai Đen
*****


Thành Viên Danh Dự.

Posts: 1120
Re: Năm Canh Dần và Hổ
Reply #130 - 22.02.2010 at 16:33:50
 
Quote from Kata on 21.02.2010 at 23:58:11:
Năm Canh Dần bớt sát sanh săn bắn hại cọp.

. Sau đó người có khả năng "đánh hơi" những khu rừng có cọp như Sầm Bót, những người chuyên bắt cọp như Kim Kiry cùng xuất phát mở những cuộc săn.Khi phía Campuchia có "hàng" cũng sẽ thông báo cho các đường dây tiêu thụ ở Tây Ninh để t́m khách hàng. Người t́m được khách được hưởng 15% giá mua, người bán được hàng được hưởng 15% giá bán của các thợ săn Campuchia. Cứ như vậy, họ bọc lót, giữ bí mật cho nhau, địa điểm giao hàng và chuyển hàng thay đổi linh hoạt với mắt xích kẻ làm "tiền trạm", người "giữ điểm", kẻ làm liên lạc một cách an toàn.Và chỉ sau một đêm, những "chúa sơn lâm" từng hùng cứ một vùng bị sụp bẫy hoặc bị trúng đạn từ bên kia biên giới sẽ được ướp đá trong thùng nhựa, vượt hàng trăm cây số đưa về Dương Minh Châu, Tràng Bàng.     Theo Pháp Luật TP HCM

 
Qua tấm h́nh con Cọp bị nhốt trong cũi mà Kata mang lên đây làm tôi chợt nhớ tơí bá thơ rất hay cuả Thế Lữ
là HỔ NHỚ RỪNG :
 
"Ngậm một mối căm hờn trong cũi sắt
 Ta lạnh lùng trông ngaỳ tháng đi qua!"
.......................................................
 
Nhưng không nhớ nổi hết bá thơ. Vây nêu có ai trong Diễn đàn có được  bá thơ naỳ th́ xin hăy Post lên đậy.
Xin cám ơn trước.[flash=200,200][/flash]
 
 
 
 
 
 
 
Back to top
 
 
View Profile   IP Logged
Thái-Không NĐP OAM.
Đai Đen
*****


Thành Viên Danh Dự

Posts: 3104
Nhớ Rừng: Năm Canh Dần và Hổ
Reply #131 - 22.02.2010 at 16:41:42
 
Quote from Taiso on 22.02.2010 at 16:33:50:


Qua tấm h́nh con Cọp bị nhốt trong cũi mà Kata mang lên đây làm tôi chợt nhớ tơí bá thơ rất hay cuả Thế Lữ
là HỔ NHỚ RỪNG :

"Ngậm một mối căm hờn trong cũi sắt
Ta lạnh lùng trông ngaỳ tháng đi qua!"
.......................................................

Nhưng không nhớ nổi hết bá thơ. Vây nêu có ai trong Diễn đàn có được  bá thơ naỳ th́ xin hăy Post lên đậy.
Xin cám ơn trước.[flash=200,200][/flash]





 
Kính Thầy Taiso .
Xin gởi Thầy Bài "Nhớ Rừng" của Thế Lữ , viết tặng Nguyễn Tường Tam vào năm 1936 .
 
 
 
Nhớ Rừng .
 
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,  
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.  
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,  
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm,  
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hăm,  
Để làm tṛ lạ mắt, thứ đồ chơi.  
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,  
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.  
 
Ta sống măi trong t́nh thương nỗi nhớ,  
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.  
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,  
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,  
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,  
Ta bước chân lên, dơng dạc, đường hoàng,  
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,  
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.  
Trong hang tối, mắt thần khi đă quắc,  
Là khiến cho mọi vật đều im hơi,  
Ta biết ta chúa tể của muôn loài  
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.  
 
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,  
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?  
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,  
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?  
Đâu những b́nh minh cây xanh nắng gội,  
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?  
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.  
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,  
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?  
-- Than ôi! thời oanh liệt nay c̣n đâu?  
 
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,  
Sống những cảnh không đời nào thay đổi,  
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:  
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;  
Giải nước đen giả suối, chẳng thông ḍng  
Len dưới nách những mô g̣ thấp kém;  
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm,  
Cũng học đ̣i bắt chước vẻ hoang vu  
Của chốn ngàn năm cao cả âm u.  
 
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!  
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị.  
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa  
Nơi ta không c̣n được thấy bao giờ  
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,  
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn  
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,  
-- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
 Thế Lữ .
 
Thân kính .
 
Thái-Không .
Back to top
 
 
View Profile   IP Logged
Kata
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 620
Năm Canh Dần và hổ
Reply #132 - 22.02.2010 at 23:37:20
 
Cám ơn thầy Taiso đă gợi ư và bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ do thầy Thái Không post rất hay.Đây là một bài thơ nổi tiếng của Thế Lữ.Con tặng hai thầy một bài thơ.
 
Nỗi ḷng con hổ
 
Hỡi loài người lắng nghe lời cầu thỉnh  
Hăy dừng tay thôi tàn sát chúng sinh  
V́ lợi danh quên đi hạnh phúc ḿnh  
Bao thú hiếm đă gần ngày tuyệt chủng  
Chúng săn bắt đặt bẫy ḿn t́m diệt  
Bầy thú hiền chết thảm bởi cung tên  
Đốt phá rừng mua bán thú khắp miền  
Muôn loài vật từ đây đang lâm nạn  
Nơi rừng hoang tiếng ́ ầm súng đạn  
Lũ chúng tôi luôn khiếp đảm hồn kinh  
Bắt nhốt lồng chờ tiệc nhậu linh đ́nh  
Của những kẻ tự xưng ḿnh mặt lớn  
ở thị thành thường nép ḿnh giấu kín  
Đợi thời cơ nhảy xổ chụp mồi ngon  
Chúng khôn ngoan luôn ŕnh rập cửa quan  
Bọn sâu mọt cốt người ḷng dạ thú  
Rắn, Cọp, Gâu, Beo... bao loài thú hiếm  
Cá biển Đông giờ chết sạch sành sanh  
Đều do ḿn của những kẻ bạo hành  
Gây chết chóc bởi đồng tiền tanh máu  
Ta nói ra để các người tự hiểu  
Rừng bạt ngàn xanh thẳm chở che ai?  
Nếu một mai bao cánh rừng hủy diệt  
Ai là người che chắn băo cuồng giông?  
Nên nhớ cho hồn sông núi anh hùng  
Ta là kẻ điều ḥa trời mưa nắng  
Ta phủ che những trưa hè nắng gió  
Làm dịu đi cơn băo tố kinh người  
Nơi ngày xưa Lê Lợi ẩn chờ thời  
Đường kháng chiến diệt quân Minh xâm chiếm  
Nơi bản doanh Bác Hồ kính mến  
Vạch con đường cứu nước phải hy sinh  
Đến hôm nay Đất nước đă thanh b́nh  
Rừng đóng góp bao công lao không nhỏ  
Hôm nay ấm no đừng quên ngày gian khổ  
Uống nước nhớ nguồn đạo lư đừng quên  
Chúa tể sơn lâm ngự trị uy quyền  
Ta bá chủ mọi loài nơi núi thẳm  
Nhắn đôi lời đừng quên nghĩa vong ân  
Thôi chém giết - tàn phá rừng vô tội  
Xin mở rộng ḷng từ bi trẫy hội  
Để t́nh thương được nẩy lộc đâm chồi  
Rừng càng xanh muôn ngàn thú mừng vui  
Hồn sông núi một giang sơn gấm vóc  
 
                                      Bảo Cường
Back to top
 
 
View Profile   IP Logged
Taiso
Đai Đen
*****


Thành Viên Danh Dự.

Posts: 1120
Re: Năm Hổ Nhớ Rừng
Reply #133 - 23.02.2010 at 05:09:53
 
Quote from Thái-Không NĐP OAM. on 22.02.2010 at 16:41:42:


Kính Thầy Taiso .
Xin gởi Thầy Bài "Nhớ Rừng" của Thế Lữ , viết tặng Nguyễn Tường Tam vào năm 1936 .


  Nhớ Rừng .

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.

Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm,

.............................................................

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị.
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không c̣n được thấy bao giờ
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
-- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
Thế Lữ .

Thân kính .

Thái-Không .

 
Kính Thầy Thaí Không,
 
Không ngờ Thầy  quá lẹ tay: Vưà tung đ̣n đă có Thầy ra tay rố!
Có lẽ trí óc cuả Thầy không thua ǵ caí Computer ???
 
Bá thơ đọc lên nghe rất hào hùng và khí phách cuả Hổ. Thật không hổ ngươi chút nào!
 
Rất hạnh phúc và sảng khoái khi được đọc bá thơ về Hổ trong năm CỌP này...
 
Xin cám ơn Thầy Thái Không  
 
Thân aí
 
 
     Mong ngày trở lại rừng xưa,
Vẫy vùng thỏa chí chẳng thua năm nào!
Back to top
 
 
View Profile   IP Logged
homer
Đai Xanh
***


I Love Springfield

Posts: 89
Re: Năm Canh Dần và hổ
Reply #134 - 23.02.2010 at 11:33:23
 
Quote from Kata on 22.02.2010 at 23:37:20:
Cám ơn thầy Taiso đă gợi ư và bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ do thầy Thái Không post rất hay.Đây là một bài thơ nổi tiếng của Thế Lữ.Con tặng hai thầy một bài thơ.

Nỗi ḷng con hổ

Hỡi loài người lắng nghe lời cầu thỉnh
Hăy dừng tay thôi tàn sát chúng sinh
V́ lợi danh quên đi hạnh phúc ḿnh
Bao thú hiếm đă gần ngày tuyệt chủng
Chúng săn bắt đặt bẫy ḿn t́m diệt
Bầy thú hiền chết thảm bởi cung tên
Đốt phá rừng mua bán thú khắp miền
Muôn loài vật từ đây đang lâm nạn
Nơi rừng hoang tiếng ́ ầm súng đạn
Lũ chúng tôi luôn khiếp đảm hồn kinh
Bắt nhốt lồng chờ tiệc nhậu linh đ́nh
Của những kẻ tự xưng ḿnh mặt lớn
ở thị thành thường nép ḿnh giấu kín
Đợi thời cơ nhảy xổ chụp mồi ngon
Chúng khôn ngoan luôn ŕnh rập cửa quan
Bọn sâu mọt cốt người ḷng dạ thú
Rắn, Cọp, Gâu, Beo... bao loài thú hiếm
Cá biển Đông giờ chết sạch sành sanh
Đều do ḿn của những kẻ bạo hành
Gây chết chóc bởi đồng tiền tanh máu
Ta nói ra để các người tự hiểu
Rừng bạt ngàn xanh thẳm chở che ai?
Nếu một mai bao cánh rừng hủy diệt
Ai là người che chắn băo cuồng giông?
Nên nhớ cho hồn sông núi anh hùng
Ta là kẻ điều ḥa trời mưa nắng
Ta phủ che những trưa hè nắng gió
Làm dịu đi cơn băo tố kinh người
Nơi ngày xưa Lê Lợi ẩn chờ thời
Đường kháng chiến diệt quân Minh xâm chiếm
Nơi bản doanh Bác Hồ kính mến
Vạch con đường cứu nước phải hy sinh
Đến hôm nay Đất nước đă thanh b́nh
Rừng đóng góp bao công lao không nhỏ
Hôm nay ấm no đừng quên ngày gian khổ
Uống nước nhớ nguồn đạo lư đừng quên
Chúa tể sơn lâm ngự trị uy quyền
Ta bá chủ mọi loài nơi núi thẳm
Nhắn đôi lời đừng quên nghĩa vong ân
Thôi chém giết - tàn phá rừng vô tội
Xin mở rộng ḷng từ bi trẫy hội
Để t́nh thương được nẩy lộc đâm chồi
Rừng càng xanh muôn ngàn thú mừng vui
Hồn sông núi một giang sơn gấm vóc
  Bảo Cường

Bài thơ hay quá, tuy không bóng bẩy sắc sảo như bài Nhớ Rừng của Thế Lữ nhưng lại mang ư nghĩa rất thời đại.
Con hổ thời nay tư tưởng "tiến bộ" hơn nhiều, không chỉ than thở tiếc nuối quá khứ. Với tư cách một cư dân của rừng xanh, hổ đau xót thấy rừng bị tàn phá không thương tiếc, muông thú bị tận diệt vô tội vạ. Đó mới là ư chính, c̣n có nhắc đến vài nhân vật hay giai đoạn lịch sử nào đó chỉ là phụ, chẳng có chi bất kính hay bất xứng.
 
Lẽ ra con hổ "thân thiện với môi trường" này phải được cử làm đại biểu sang dự hội nghị về bảo vệ môi trường ở Đan Mạch năm trước mới phải. Chứ các ngài đại biểu biết đâu chỉ nói cái mồm cho sướng, c̣n ở nhà cứ đớp hít thịt rừng, uống rượu cao hổ cốt, săn lùng sừng tê ngà voi và đóng bàn ghế gỗ quí bày ra lấy oai ?
Back to top
 
 

Xa quê hương nhớ bà hàng xóm
Email View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Hoa Đào Năm Ngoái C̣n Cười Gió Đông
Reply #135 - 26.03.2010 at 17:55:11
 

  Đôi lời tự thuật của chính tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim
 
 
 
Phần 1: Mà chết người gái nhỏ hậu phương…
 
Tôi sinh ra trong một gia đ́nh nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đă 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ư định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời c̣n nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đ́nh Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.
 
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhăn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ư, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
 
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi măi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nh́n thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tṛn xoe như có ánh chớp ấy đă hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài G̣n nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng th́ cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc th́ vài quả ớt đỏ au, lúc th́ quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
 
Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm ĺ trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào pḥng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đă nói ǵ, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đă nói rất nhiều, đă kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đ̣i tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ư: “Mới ốm dậy c̣n yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đ̣i đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..
 
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói ǵ. Bất chợt em nh́n tôi, rồi ngước mắt nh́n ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ ǵ. Bất chợt em hỏi tôi:
-Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nh́n xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, c̣n tôi v́ mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ….Khi tôi tỉnh dậy, em đă ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
-Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.
 
Như đă nói, tôi sinh ra trong một gia đ́nh nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm ǵ, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nh́n em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má th́….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
 
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo măi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nh́n theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nh́n xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nh́n lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nh́n lại đến khi không c̣n nh́n thấy em nữa…
 
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đă khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đă có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống t́m em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói ǵ, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không c̣n cô học tṛ Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đă gần 17 tuổi, đă là một cô gái xinh đẹp….
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ v́ hai gia đ́nh không môn đăng hộ đối một chút nào. Măi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới th́ em gạt đi, không đ̣i may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái t́nh bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đ́nh em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đă đứng. Chỉ có giờ em không c̣n cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quư của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nh́n lại…..Nếu như chín năm về trước, nh́n lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác th́ lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), v́ muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đă cuốn em vào ḷng nó, cướp đi của tôi người bạn ḷng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không ǵ bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.
Tôi phải giấu kín nỗi đau trong ḷng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn….Dường như càng kềm nén th́ nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự ǵ cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong ḷng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ ǵ, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh …” …Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc b́nh hoa ngày cưới làm b́nh hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đă chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chổ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xă Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : 
Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giă văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng v́ tính tôi” hay căi, thích chống đối, không thể làm ǵ trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

 
Đến vụ Nhân văn Giai phẩm :
 
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ th́ phải có cái tâm thật thiêng liêng th́ thơ mới hay. Thơ hay th́ sống măi. Làm thơ mà không có t́nh, có tâm th́ chả ra ǵ! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao t́nh yêu, tôi khóc người vợ tử tế của ḿnh, người bạn đời hiếm có của ḿnh. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái t́nh cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?
Bọn họ xúc phạm đến t́nh cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quư, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dơi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dơi, cho người hại tôi…
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đă có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên B́nh quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, v́ vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đă làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

 
 
Phần 2: Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ…
 

 
Vợ nhà thơ Hữu Loan – Bà Phạm Thị Nhu Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.
Lúc đó tôi c̣n là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không c̣n hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xă thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đ́nh địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu ḷng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng pḥng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm ḷng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .
 
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đ́nh ông đă bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đ́nh ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng c̣n ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
 
Biết chuyện thảm thương của gia đ́nh ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xă đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao v́ trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được h́nh ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
 
Lúc gần tới xă, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói ḷng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai c̣n sống hay bị chết đói.
 
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi c̣n ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no….Cho đến bây giờ cô đă cho tôi 10 người con – 6 trai , 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
 
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng th́ làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve văn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm ǵ.
 

 
Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn ḿnh ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đ̣i tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.
 
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một h́nh thức bảo tồn tài sản văn hóa. Th́ cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi c̣n 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, pḥng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
 
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin kư hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán .

 
 
 © Hữu Loan
 
 
http://dotchuoinon.com/2010/03/18/nha-th%C6%A1-h%E1%BB%AFu-loan-qua-d%E1%BB%9Di/
 
 Màu Tím Hoa Sim
 
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh.
Tôi người vệ quốc quân
xa gia đ́nh
Yêu nàng như t́nh yêu em gái.
Ngày hợp hôn
Nàng không đ̣i may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh bết bùn
Đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi.
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi ḿnh không về
th́ thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
Người trai khói lửa
Mà chết
Người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc b́nh hoa ngày cưới
thành b́nh hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được nh́n nhau một lần.
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một ḿnh
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng;
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nh́n ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Nh́n áo rách vai
Tôi hát
trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…).
 
Hữu Loan
 
 
Berryflower Violet
 
 
She had three brothers in the army
The younger ones
some weren’t yet talking
When her hair was still soft
I was a soldier
away from home
Loving her as a little sister
The wedding day
she didn’t ask for a new dress
I wore army uniform
The hobnail boots
Battlemud-smeared
Lovely she smiled
beside the odd husband
I came back from the front
Wedding done, I left.
From the far war zone
I thought of her, uneasy
Marrying in war time
Who leaves and would return?
If I don’t come back
how pitied would it be
for the little wife waiting
in the country evenings…
Yet the boy in the firing lines didn’t die
but died
the little girl behind
I came back
seeing her not
My mother sat by her tomb in darkness
The wedding day’s flowerpot
had become an incense vessel
besieged in expired coldness
Her hair was soft
too short to pin up
O my beloved, the last minute
we couldn’t hear each other
we couldn’t see each other even once
Those days she loved violet berryflowers
Her dress was berryflower violet
Those days
night lamp
small shadow
She mended for her husband the shirt
those days…
An afternoon
rain over the forest
the three brothers in the northeastern front
received words of the sister’s death
before the wedding news
An early autumn wind
made the river waters creep
The little brother grew up
lost
looking at the sister’s picture
When came the early autumn wind
the grass withered by the tombstone
In the afternoons
my platoon passes through berry hills
berryflower hills infinitely long in the afternoons
Berryflower violet
endlessly purples the desolate afternoons
Looking at the torn shirt shoulder
I sing
in the flower’s color
“My shirt is torn by the seam
My wife died
My mother has not yet mended it.”
 
 
 
TĐH translated  
 
 
(June 13, 1998, March 2, 2000; March 18, 2010)

 
 
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Kata
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 620
Re: Hoa Đào Năm Ngoái C̣n Cười Gió Đông
Reply #136 - 26.03.2010 at 23:33:44
 
Những đồi hoa sim bài hát được phổ nhạc từ bài thơ Màu tím hoa sim đă nêu rơ từ  bài viết anh Badmonk nói trên,đây là bản nhạc nổi tiếng trích từ bài thơ của nhà thơ Nguyễn Hữu Loan Sad
 
http://www.youtube.com/watch?v=k4b2UglfrWw
 
Áo anh sứt chỉ đường tà:
 
http://www.youtube.com/watch?v=5uiITXE9msk
Back to top
 
 
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Hoa Đào Năm Ngoái C̣n Cười Gió Đông
Reply #137 - 23.04.2010 at 05:22:13
 

 
    
           H́nh ảnh người Việt đầu thế kỷ 20
 
 
Nếu không có lần tái bản này, chắc chắn sẽ rất ít người có cơ hội tiếp cận cuốn sách quư của Henri Oger về người Việt Nam đầu thế kỷ 20, v́ trong lần ra mắt đầu tiên cách đây đúng 100 năm, cuốn sách chỉ được in 60 bản, giờ nằm tản mát ở thư viện nhiều nước trên thế giới.
 
Những h́nh vẽ có một không hai
 
Đó là vào những năm 1908 - 1909, khi Henri Oger cùng một họa sĩ người Việt đi khắp các phố phường Hà Nội và vùng lân cận để ghi chép và vẽ lại các công cụ, đồ nghề và thao tác của người thợ thủ công. Rất nhiều nghề, trong đó có những nghề nay đă mai một hoặc không c̣n, đều được “chụp” lại bằng những nét vẽ mộc mạc nhưng chính xác và có sức gợi h́nh mạnh mẽ. Có thể kể ra đây hàng loạt bức tranh sinh động như: Xưởng làm đồ sơn, Bật bông và ép bông, Người mù xay bột gạo, Thợ thêu chép mẫu, Tô vẽ h́nh trang trí
 
Cũng trong hành tŕnh này, có lẽ do quá hứng thú và ṭ ṃ về một nền văn hoá khác, Henri Oger đồng thời cho vẽ lại hết sức tỉ mỉ nhiều ứng xử và hành vi đời thường của người dân, từ mang con bỏ chợ, thả bè trôi sông, động tác của đàn bà căi nhau, người An Nam đi du lịch đến ngoáy tai bằng lông gà, quạt mát bằng vạt áo, đẻ rơi ngoài đường, đám phụ nữ chờ việc trên phố, trộm tháo cánh cửa, chải lược để xuống sữa… Phần này được chia thành nhiều mảng, trong đó các mảng Phép thuật và bói toán, Các phép trị liệu dân gian, Tết và lễ, Tṛ chơi và đồ chơi, Đời sống ngoài phố, Nghề bán rong được đặc biệt quan tâm. Chính sự toàn diện trong việc thu thập dữ liệu đă làm nên nét độc đáo cho công tŕnh của Henri Oger so với những nguồn tranh, ảnh, tư liệu cùng thời khác.
 

 
Năm 1909, tác phẩm "Giới thiệu tổng quát kỹ thuật của người An Nam" của Henri Oger được xuất bản, gồm hai tập - tập Bài viết và tập Bản vẽ, trong đó tập Bản vẽ gồm 700 trang với 4.200 h́nh in trên giấy dó khổ lớn bằng phương pháp in mộc bản (phương pháp in tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống). Giúp việc cho Oger có khoảng 30 thợ vẽ và thợ khắc, hầu hết không có danh tính, mà Oger ca ngợi là trung thực và có ư thức.
 
Nếu nội dung tập Bài viết khá sơ sài, cảm tính và không có nhiều giá trị về mặt khoa học, th́ tập Bản vẽ, với tính thẩm mĩ cao đă khiến bộ tư liệu của Henri Oger trở thành một cuốn sách nghệ thuật thật sự và về mặt lịch sử, là một thư tịch quư về kỹ thuật, phong tục và đời sống của người Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20.
 

 
Nhà nghiên cứu đơn độc
 
Henri Oger sinh tại Pháp năm 1885. Sau khi đỗ tú tài chuyên ban tiếng Latinh, Hy Lạp và Triết học năm 1905. Ông t́nh nguyện thực hiện nghĩa vụ quân sự ở Hà Nội từ năm 1907 đến 1909, khi Bắc Kỳ trở thành xứ Bảo hộ mới được 20 năm.
 
Ông đă khởi xướng nhiều đề án nghiên cứu, trong đó Nghiên cứu về kỹ thuật của người An Nam mà ông tiến hành khi mới 23 tuổi là đề án quan trọng và hoàn chỉnh nhất của ông. Nghiên cứu này về thực chất là bộ sưu tập h́nh vẽ một cách có chủ ư, v́ theo ông “trí nhớ h́nh ảnh thường rất dai dẳng ở đa số mọi người”, trong khi “đọc bài tŕnh bày về các công cụ hay động tác” là công việc quá vất vả.
 
Năm 1911, Oger trở lại Đông Dương lần thứ hai, công tác tại Vinh. Do quá chú tâm vào các công tŕnh nghiên cứu, đôi khi ông lơ là việc quản lư hành chính. Năm 1914, bị coi là một công chức vô dụng, ông được cho hồi hương, nhưng với lư do sức khoẻ kém.
 

 
Năm 1916, đến Bắc Kỳ lần thứ ba, ông làm phó quản lư tỉnh Quảng Yên. Chuyến đi này kết thúc sau ba năm và ông trở về Pháp năm 1919, cũng với lư do sức khoẻ sa sút.
 
Sau đó, Oger sống một vài năm ở Tây Ban Nha và mất tích năm 1936. Ông đă lấy vợ nhưng không rơ ngày cưới và không có con.
 

 
Bắc Kỳ những năm đầu thế kỷ 20 trong con mắt Henri Oger là nơi đất chật người đông, cuộc đấu tranh sinh tồn rất dữ dội. Ông viết: “Cảnh lũ lụt, sản vật ít, công việc nhà nông cực kỳ vất vả, người phụ nữ phải đầu tắt mặt tối suốt ngày, đă gây ra một hiện tượng kỳ lạ ở đây: các ngành nghề và ngành thương mại đă phân chia, tản mát thành vô số tiểu nghề và nghề buôn bán nhỏ. Có thể nói rằng, ở Hà Nội, mỗi loại thực phẩm, mỗi loại hoa quả đều có người bán riêng. Vả lại chúng ta hăy nhớ rằng ở các thành phố An Nam, những người kiếm sống trên đường phố rất đông”.
 

 
Chính v́ người dân nghèo “Người An Nam sống trong một xă hội nghèo và bế tắc, không có nhiều của cải, v́ thế sự nghèo túng buộc họ phải giảm tối đa nhu cầu của ḿnh. Trên thực tế, dân An Nam tiêu hoang”), “chưa bao giờ có thị hiếu về cái đẹp”, “chỉ quen mua hàng rẻ”, “ít đ̣i hỏi cao”, nên hàng làm ra bán cho họ thường bị làm nhanh, làm ẩu. Thợ thủ công An Nam cũng bị nhận xét là kỹ thuật sơ sài, không được giảng dạy đầy đủ về nghề nghiệp. Với một số nghề đ̣i hỏi hiểu biết về hội hoạ, chẳng hạn như nghề khắc gỗ, thợ An Nam tỏ ra chỉ là người thực hành mà thiếu sáng tạo, “không có chút sinh khí nào”, “không có những phẩm chất đă khiến cho người thợ ở châu Âu trở thành nghệ sĩ”.
 
Tuy nhiên, theo hai tác giả chủ biên cuốn sách người Pháp, những nhận xét này không hề mang sắc thái khinh thường thái quá mà chỉ đơn giản là v́ Oger sống trong thời đại của ḿnh, tin vào tính ưu việt của mô h́nh văn minh tư sản phương Tây so với các xă hội xa lạ và tin vào sứ mệnh khai hoá văn minh của nước Pháp.
 
 
Thái Thanh - Tạp chí Tia Sáng
 
 

 
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Kata
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 620
Re: Hoa Đào Năm Ngoái C̣n Cười Gió Đông
Reply #138 - 01.05.2010 at 22:57:43
 
Đọc bài này của anh Badmonk,Kata tưởng như quay về thời kỳ này vậy,những h́nh ảnh rất sinh động về dân tộc ta đầu thế kỷ 20.Em thích nhất là tấm h́nh móc lỗ tai á Tongue,ở Việt Nam giờ đi hớt tóc cũng có móc lỗ tai nữa đó anh Cheesy.Cám ơn anh một bài viết dân tộc ta thời xưa rất hay.
Back to top
 
 
View Profile   IP Logged
Badmonk
Đai Đen
*****


Thành Viên Diễn Đàn.

Posts: 3331
Re: Hoa Đào Năm Ngoái C̣n Cười Gió Đông
Reply #139 - 07.05.2010 at 15:30:07
 
Quote from Kata on 01.05.2010 at 22:57:43:
Đọc bài này của anh Badmonk,Kata tưởng như quay về thời kỳ này vậy,những h́nh ảnh rất sinh động về dân tộc ta đầu thế kỷ 20.Em thích nhất là tấm h́nh móc lỗ tai á Tongue,ở Việt Nam giờ đi hớt tóc cũng có móc lỗ tai nữa đó anh Cheesy.Cám ơn anh một bài viết dân tộc ta thời xưa rất hay.

 
Vơ thời nay không biết có hơn vơ ngày xưa hay không th́ không được rơ lắm !
 
C̣n cái nghề ráy lỗ tai hiện nay coi bộ vượt xa hơn ngày xưa rất nhiều : Các cô đứng bên phải mà ráy lỗ tai bên trái cho các ông mới nghề !

 Grin Grin Grin
Back to top
 
 


Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.
View Profile   IP Logged
Pages: 1 ... 5 6 7 8 
Locations of visitors to this page